Thứ Ba, 24 Tháng Năm 2022
NỮ GIỚI Chúng tôi đã có khoảng thời gian yên bình như thế

Chúng tôi đã có khoảng thời gian yên bình như thế

  Tôn sư trọng đạo là truyền thống nhân văn tốt đẹp của dân tộc ta từ ngàn đời xưa đến nay. Truyền thống ấy thể hiện rõ nét nhất trong ngày 20/11 hàng năm – là ngày Hiến chương các nhà giáo Việt Nam. Năm nay, một mùa Hiến chương Nhà giáo nữa lại sắp về giữa đại dịch Covid-19, hàng hậu học không thể trở về mái trường xưa để kính thăm thầy cô – những người lái đò trên dòng sông tri thức, chỉ có thể vọng hướng tri ân trong tâm tưởng.

Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn.”

Khi ta mới đặt chân đến một nơi nào đó, mọi thứ còn xa lạ nên “chỉ là nơi đất ở.” Nhưng khi ta từ biệt nơi ấy ra đi, đất đã lưu giữ một phần đời với bao nhiêu kỷ niệm và ân tình nên đã “hóa tâm hồn.”

Bất chợt những kỷ niệm một thời học Ni nơi mái ấm Thiện Hòa, trên mảnh đất Thánh Địa Đại Tòng Lâm bỗng ùa về trong tôi. “Ngày ấy” tưởng chừng như mới hôm qua mà giờ ngồi nhắc lại đã trở thành chuyện của “ngày xưa cũ”…

Ba năm – thời gian không quá ngắn cũng chẳng quá dài, nó đủ cho bạn, cho tôi kịp ghi lại trong tâm trí mình những kỷ niệm thật đẹp, những khoảnh khắc thật đáng nhớ. Và giờ đây, khi bánh xe thời gian cứ thế đi qua thật chậm, thật chậm thôi nhưng ai đó cũng đều muốn níu kéo thêm từng giây, từng phút ngắn ngủi để bên nhau như thế.

Ngày ấy, những tháng ngày bình yên không Internet, không điện thoại di động vậy mà thật vui. Thứ bảy, Chủ nhật là thời gian chúng tôi mong chờ nhất vì được Thầy Quản Viện cho phép xem phim tập thể. Tuy Thầy và quý Sư dặn dò kỹ lưỡng: “Chỉ được xem phim Phật giáo thôi nghe con! Nhớ không được xem quá 11 giờ nghe con! Không được cười lớn tiếng nghe con!…” thế nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng bị quỳ hương vì cái tội xem phim Hàn Quốc, kiếm hiệp, không đúng với chủ đề cho phép (chỉ tại phim Phật giáo ít quá, sản xuất không kịp cho chúng tôi xem); hay có những lúc 11 giờ rồi mà đoạn phim đang đến hồi gay cấn, chúng tôi bạo gan ráng thêm chút nữa, rồi chút nữa cho đến khi Sư đứng sau lưng, trên tay là cuốn sổ và cây viết; cũng có những lúc gặp đoạn hài quá, chúng tôi nhập tâm quên mất lời Sư dạy, cười ầm lên (vì cười tập thể nên âm thanh có sức lan tỏa khủng khiếp, truyền thẳng đến phòng Sư)… Buổi nhóm chúng nào Sư cô Huệ Hoàng cũng thắc mắc với Sư Diên: “Thưa Sư, con không hiểu sao cứ khuya thứ hai là Chúng bị bệnh, vắng công phu rất nhiều.” Chúng tôi ngồi ở dưới nhìn nhau tủm tỉm cười, trong lòng cũng hơi lo lắng vì sợ Sư cấm từ nay không được xem phim nữa thì buồn lắm.


Ngày ấy, ở cái tuổi lưng chừng của bồng bột và trưởng thành, chúng tôi cố gắng tỏ vẻ nghiêm trang vì nghĩ mình đường đường là “thiên nhơn chi đạo sư” nhưng rồi có những lúc ham vui chúng tôi liền quên hết mọi thứ xung quanh, quên mất mình là ai, như một đứa con nít lên ba: Trưa ngồi bàn chứng minh Trai tăng, chiều hè nhau chơi đánh banh, nhảy cò cò, sáng mai quỳ hương sám hối…

Ngày ấy, ở cái tuổi ham ăn ham ngủ, thể dục lúc 5 giờ sáng đối với chúng tôi là một cực hình. Không ra sân tập thì bị phạt, thế nên có nhiều lúc chúng tôi vừa đứng vẩy tay (tập dịch cân kinh) vừa tranh thủ làm giấc mỏng. Một hôm có khách Tăng nghỉ lại, 5 giờ sáng nhìn ra thấy chúng tôi tập, quý thầy buột miệng: “Mấy cô tập thể dục gì mà nhìn giống vịt bơi quá!”. Nghe vậy, chúng tôi thấy nhột liền tỉnh ngủ, tập khí thế để lấy lại hình ảnh. Nhưng rồi hôm sau đâu lại vào đó.

Ngày ấy, cứ chiều chiều chúng tôi lẻn ra Trai đường 6 lấy bánh xèo ăn, ăn mất phần của khách hành hương, Phật tử đổ không kịp vô méc Thầy. Hôm sau Thầy cho dọn bánh xèo lên bàn thì chúng tôi ngồi ngó chứ không ăn nổi cái nào. Chúng tôi lấm lét nhìn nhau như ngầm hiểu rằng “ăn vụng mới thấy ngon.”

Ngày ấy, chúng tôi thường giành nhau đi lấy củi ở công ty Vedan, đơn giản chỉ vì được ra ngoài. Thế giới bên ngoài đang chạy đua tất bật với cuộc sống mưu sinh cơm áo gạo tiền. Vậy mà tâm hồn trẻ trâu của chúng tôi mỗi khi được ra đường, dù là đi xin củi, dù là đang ngồi trên một chiếc xe tải cũ kỹ chạy ì ạch vẫn thấy đó là niềm vui…

Ngày ấy, tôi còn nhớ rất rõ chiếc bánh kem và 52 bộ kinh Kim Quang Minh. Nhân ngày sinh nhật tôi và hai bạn cùng sinh tháng 7, cả liêu Trí Tuệ lén mua một cái bánh kem làm tiệc chúc mừng. Thầy biết được thế là cả liêu ra Trai đường sám hối. Thầy quở chúng tôi: “Mấy đứa ở liêu Trí Tuệ mà không có chút trí tuệ nào hết. Cái ngày mình sinh ra, mình đau đớn, mẹ mình cũng đau đớn vậy mà còn tổ chức ăn mừng, đáng lẽ nhân ngày này mấy đứa con càng phải tu hơn, phát nguyện trì một bộ kinh chẳng hạn… để hồi hướng cho cha mẹ… bây giờ Thầy phạt mấy đứa con tụng cho Thầy 52 bộ kinh Kim Quang Minh cho trí tuệ sáng ra!”. Cho tới tận bây giờ bài học về chiếc bánh kem và 52 bộ kinh Kim Quang Minh cùng lời dạy của Thầy vẫn còn khắc sâu trong tâm thức tôi và tôi sẽ lấy đó làm phương châm tu tập trong nếp sống phạm hạnh của mình.

Thầy từng nói với chúng tôi rằng: “Đây là cái lò rèn!”. Quả thật, đôi lúc chúng tôi nội lực còn non nớt, không chịu nổi sức nóng của ngọn lửa và sức nặng của những nhát búa, lòng sanh hờn giận người thợ rèn sao quá nặng tay, vô tình. Nhưng rồi qua thời gian, chúng tôi đã hiểu được, tất cả những rèn luyện khắt khe ấy đều xuất phát từ tình thương, đều chứa đựng trong đó chất liệu của từ bi, hỷ xả.

Bây giờ, chúng tôi đã rời xa mái trường thân thương, làm cánh chim tự do tung bay vào những miền đất hứa, chúng tôi mới cảm nhận được giá trị của những năm tháng nơi mái ấm Thiện Hòa. Nơi đây có những bậc Thầy khả kính vẫn âm thầm lặng lẽ với những chuyến đò xuôi ngược trên dòng sông tri thức, đã sản sinh nên bao bậc Tăng Ni tài đức cho Giáo hội.

Bây giờ, khi đã rời xa mái trường thân thương, tôi thèm được nghe giọng nói quen thuộc của Thầy: “Tụi con khờ quá!”, thèm được nghe những lời thông báo nhắc nhở của Sư Diên trên Trai đường, thèm được nghe giọng tán tụng tuyệt vời của Sư cô Quảng Trinh…

Bây giờ, khi được tự do sử dụng internet, smartphone, đôi lúc chúng tôi thèm cái cảm giác háo hức đợi chờ đến thứ bảy để được quây quần bên nhau xem phim tập thể.

Bây giờ, khi người ta trò chuyện với nhau bằng công nghệ 4.0, biểu cảm bằng sticker, status, ở cùng phòng nhưng đôi khi nói chuyện không cần nhìn vào mặt nhau và xem tâm trạng của nhau, tôi lại thèm được sống lại những ngày xưa ấy… giản dị mà thấm đượm ân tình.

Đã 30 năm, Đại Tòng lâm là chiếc thuyền từ vững chãi đưa những ước mơ và hoài bão của thế hệ Tăng Ni trẻ sang sông. Từ một ngôi trường nhỏ thiếu thốn nhiều thiết bị và cơ sở vật chất. Nhưng với sự tận tâm, tận tụy của quý ngài, ngôi trường dần hoàn thiện hơn, đã và đang thay đổi diện mạo hàng ngày, hàng giờ.

Tôi sợ rằng ngôn ngữ không thể nào diễn tả được lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với công ơn to lớn của những bậc Thầy khả kính, không thể nào diễn tả được kỷ niệm đẹp của một thời Ni sinh ở cái tuổi “ăn chưa no lo chưa tới.”

Ngày mai, trong hành trang tôi mang theo bước vào đời sẽ luôn có những kỷ niệm của một khoảng trời bình yên và thân thương ấy!

Như Tuyết – K12

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!