Chữ “Nhẫn” của Đại sư Tinh Vân

610
Đại sư Tinh Vân

  Đại Sư Tinh Vân độc thoại: Có đắng cay khổ sở không thể nói, suốt đời tôi đã nhẫn như thế.

Tôi rút khỏi vị trí Trụ trì Phật Quang Sơn (佛光山) từ năm 1985, đem tất cả trách vụ trong tự viện giao cho Tâm Bình (心平) xử lý. Nhớ lại đại lễ truyền pháp ngày đó, ánh mắt các phóng viên, cũng như hàng vạn người đều nhìn tôi đầy vẻ cung kính tôn trọng, thậm chí phủ phục nghinh đưa, có người còn hỏi tôi một cách hiếu kỳ tại sao như vậy? Bỗng nhiên tôi chợt nhớ một câu trong Quốc Phiến* (国片): “Tôi đã sống một đời như thế” (我就这样过了一生), trong lòng tôi không ngăn được nhiều cảm xúc lẫn lộn, hồi tưởng lại tôi chắc chắn rằng tất cả mọi người cùng khẳng định với tôi, là chính mình phải trả biết bao nhiêu khó khăn chịu đựng mới đổi được thành quả như thế! Nếu đem tên bộ phim này thay một chữ, đổi là “Tôi đã nhẫn một đời như thế” (我就这样忍了一生), dùng để hình dung bản thân, trên tình lý tất nhiên là khắc họa rất phù hợp.

Tôi được sanh ra và lớn lên trong thời loạn, đầu tiên là bọn quân phản động chiếm cứ, bên ngoài ngụy trang mạnh mẽ; tiếp theo là chiến tranh giữa Trung Hoa, Nhật Bản, và sau đó là phe đối lập Quốc Dân Đảng, nền kinh tế của quê hương còn rất lạc hậu, thêm vào đó là họa tai bởi họ gây ra, nên đời sống kinh tế càng khó khăn hơn. Thời gian này thức ăn vô cùng khan hiếm, tôi đã ăn bột lúa mì, cháo loãng để sống qua ngày, lấy khoai lang thay cho cơm, một ngày ba bữa, ăn trong sợ hãi.

Tôi xuất gia năm mười hai tuổi và từ đó trở về sau, trong chùa vẫn lấy cháo thay cơm, cả tháng trời ăn không có đến một miếng đậu phụ, hoặc một ít rau tươi. Đối với thời kỳ đang trưởng thành của tôi, đương nhiên, không nạp đủ năng lượng cho dạ dày, nhưng nghĩ đến những gian nan của thời đại, những khó khăn của thường trụ, và mọi cảm xúc trong lòng khiến tôi quên đi nỗi khổ sở của cơn đói, vì vậy tôi có thói quen nuôi dưỡng chữ “nhẫn” như thế.

Năm 1949, khi vừa mới đến Đài Loan, tôi phiêu bạt bốn phương, không có nhà ở, không người dung nạp, thực sự là gian nan, phải lấy khổ sở sống qua ngày. Nhưng nhẫn là một sức mạnh, tôi bắt đầu phải vật lộn với cuộc sống, và thách thức số mệnh. Sau đó, tôi đã chuyển đến Nghi Lan, cuộc sống mới dần dần ổn định. Lúc này Phật giáo chánh tín chưa được phát triển, để thu hút nhiều người theo học Phật pháp, tôi đã không ngần ngại dùng một ít tiền nhuận bút để mua sách Phật tặng cho những thanh niên trẻ tuổi đến chùa, tiết kiệm tiền cơm, tiền xe mua sắm các dụng cụ cần thiết để giảng dạy; thậm chí tôi còn thường xuyên chống chỏi chịu đựng cái đói cái khát, đi bộ trên đường từ một, hai giờ đồng hồ trở lên, đến nhiều nơi để giảng kinh thuyết pháp. Phật giáo lần đầu tiên truyền bá Phật pháp tại Nghi Lan với một máy chiếu phim, máy ghi âm, micro, chính là chúng được mua vào thời điểm này.

Theo đó, việc hoằng hóa dần dần phát triển trong các khu vực, tín đồ nghe pháp ngày càng đông. Nhân đây, tôi phát hiện đến những vấn đề của cuộc sống là vô cùng, vô tận, trong tâm tôi càng hiểu rõ lời dạy của Đức Phật nên mở rộng tâm từ bi đem lợi lạc đến cho mọi người tăng thêm niềm khích lệ. Tôi lấy hoằng pháp lợi sinh làm chí nguyện. Cho nên, phàm có người đến cầu thỉnh Phật pháp, bất luận đường xa hay gần, tôi đều vui vẻ đáp ứng; nếu các tín đồ có điều thỉnh cầu thưa hỏi, bất kể sự việc khó dễ đến đâu, tôi cũng tận tình hóa giải những lo lắng cho họ.

Nói đến hoằng pháp, chỉ là nhờ vào giao thông, vào thời điểm đó, tôi đã ngồi qua tất cả các loại xe như cưỡi xe đạp, ngồi xe bò, xe ba bánh, xe kéo, xe tải nhẹ chui vào đường hầm mỏ than, tất nhiên, cũng có khi đi tàu hỏa, xe hơi, và thậm chí cưỡi ngựa, ngồi kiệu, đi máy bay, tàu thuyền…

Nhiều năm trôi qua, vì thường thường tiếp độ hướng dẫn các tín đồ, thuyết giảng từ sáng sớm đến tối mịt, tôi liên tục bỏ lỡ thời gian bữa ăn vì lịch trình kín mít. Đôi khi để thuận tiện, để đơn giản tôi dứt khoát lấy nước lạnh chan vào cơm nóng, hoặc lấy nước trà nóng chan vào cơm nguội lấp đầy cơn đói; có lúc mới dùng đũa ăn cơm, có lúc tạm thời tiếp nhận lời mời, tôi đành phải cầm bát, cho dù trong bát là một món ăn nóng hôi hổi, hoặc miệng bát nóng hầm hập, tất cả đều được tôi đổ vào miệng, cũng không có thời gian để ý xem coi có bỏng lưỡi không, miễn lấp đầy bao tử cho xong! Cho nên, mặc dù những năm này khá đầy đủ, tôi lại thường xuyên ăn không no bụng, chính vì vậy, có thể nói là tôi đã sống qua cuộc đời “nhẫn nại chịu đựng” cái đói như thế!

Những năm đầu vì không có gì để ăn, chỉ cần được ăn, đều cảm thấy ăn rất ngon. Trong những năm gần đây, thức ăn rất nhiều, tôi vô cùng trân quý phước báu này, cho nên, bất kể đó là mì nước, mì trộn, cơm khô, cháo loãng, bún, miến, bánh sủi cảo, bánh bao… không nhất thiết ngon hay dở, bất cứ ai đem đến tôi đều không từ chối. Thỉnh thoảng để sang một bên không ăn, bởi vì quá bận rộn, hoặc giả lúc đó nếu có dùng qua, trong lòng vẫn hoàn toàn không biểu lộ thích hay không thích. Đôi khi nhìn thấy các Phật tử hết lòng chuẩn bị một món ăn, để khuyến khích sự khổ nhọc của họ, ngay cả khi không được ngon lắm, tôi cũng sẽ tùy ý khen món ăn rất ngon. Nhưng họ chưa thể hiểu rõ tâm tôi, thậm chí hiểu lầm ý tôi, có lúc mỗi ngày, nửa tháng, một tháng, đều ăn cùng món ăn như nhau, hỏi họ vì nguyên nhân gì, họ luôn luôn nói rằng thuận theo sở thích của tôi, khiến tôi thực sự dở khóc dở cười. Nhưng nếu bảo tôi nói một câu là tôi không thích ăn, tôi phải nói như thế nào đây, tôi thà “nhẫn” chịu, cũng không muốn nói một cách tùy tiện rằng thích hay không thích.

Điều khiến tôi cảm thấy không hiểu nhất là mọi người “truyền miệng” nói tôi thích ăn cá lóc chay. Trước đây từng có một thời gian, mỗi ngày trong mâm cơm của tôi đều có món cá lóc chay đặt trước mặt, thực ra, tôi không thích nó, vì mùi vị quá nặng, từ trước tới nay, chưa hề động đũa ăn thử một tí, tất cả món cá lóc chay trên bàn đều được người khác ăn hộ, nhưng họ không quan sát, cứ lặp đi lặp lại, thậm chí còn có người hiểu lầm rằng tôi thực sự rất thích, đặc biệt còn mua chúng biếu tôi. Loại “quá yêu” này của mọi người đối với tôi, tôi cũng đành phải “nhẫn”.

Một sự việc tương tự, lại không phải là độc nhất vô song! Ví dụ: Nhiều năm trước đây, các Phật tử đã biếu tôi một cục xà phòng camay, lúc đó vật chất vô cùng thiếu hụt, hàng ngoại nhập lại càng hiếm, xem ra mọi người rất hâm mộ chúng, nhưng tôi vẫn quen dùng xà phòng thường. Cho nên, khi được biếu, tôi để nó trên bồn rửa mặt, chưa từng động đến. Điều kỳ lạ là khối lượng của xà phòng camay này ngày càng mòn, sau đó tất cả mọi người đều nói rằng tôi thích sử dụng xà phòng Camay nhập khẩu, tôi nghe qua cũng đành phải “nhẫn” mỉm cười không nói, trong lòng nghĩ có thể niềm vui của tất cả mọi người chính là niềm vui của tôi, không phải là rất thú vị hay sao?

Có một lần tôi đi giảng kinh vùng ngoại ô, thời tiết đột ngột trở lạnh, có một đệ tử mua cho tôi chiếc áo len, tôi liền nói: “Áo len dày rất tốt!” Ý của tôi là khen chú quá chu đáo, không ngờ hôm sau mọi người đều nói tôi rất thích mặc áo dày. Từ đó, dù thời tiết chuyển sang mùa nóng, chú thị giả vẫn chuẩn bị cho tôi chiếc áo đông xuân, áo khoác La-hán dày, cho đến sắm cho tôi cái tăng bào đặc biệt dày, từ đó tôi luôn luôn chịu đựng lòng tốt không phù hợp của người khác, nhân đây chính mình đành phải “nhẫn” chịu cái khổ mồ hôi đẫm đầy lưng.

Tôi thường nghĩ về những chuyện trước đây trong ngôi Tòng Lâm, giới quy vô cùng nghiêm ngặt, cho dù trời đông buốt giá, chúng tôi cũng không được phép choàng khăn, đội mũ, và trong những năm nghèo khổ đó, hầu như tất cả chúng tôi đều mặc y phục của những bậc tiền bối đã viên tịch để lại, những chiếc áo mỏng manh hết may lại vá, hết vá lại khâu, mỗi khi mùa đông trở về, những cơn gió bấc cắt da luồn vào từ cổ áo rộng đi xuống tay áo cũng rất rộng, nếu không có tinh thần nhẫn nại, thì không dễ dàng gì chịu đựng nổi cái lạnh mùa đông. Cho nên, sau này tôi đến Đài Loan, chỉ dựa vào một chiếc áo ngắn, mà sống qua hai mùa đông Bắc bộ. Lúc đó, tận mắt chứng kiến một số tu sĩ, vừa có một chút lạnh, thì trên người đã phủ thêm áo ngự hàn, nhìn thoáng qua, cơ hồ như thấy mất đi mấy phần đạo đức. Ngoài việc than thở, tôi không thể không cảm ơn sự giáo dục nghiêm khắc của các bậc Sư trưởng trong quá khứ, đào tạo cho tôi có sức kiên nhẫn không gì bằng. Đến nay, tôi đem sức mạnh của cái lạnh này để vận dụng chịu đựng cái nóng của mùa hè, như cưỡi xe nhẹ đi đường quen (ví với việc quen thì làm dễ dàng), nhưng các đệ tử của tôi có thể cảm nhận được tâm ý bao dung của tôi hay chăng?

Cái gọi là “Nhẫn”, là nhẫn được cái lạnh, nhẫn được cái nóng, đây là việc rất dễ; thậm chí nhẫn được cơn đói nhẫn được cơn khát, cũng xem như không khó; nhẫn cái khổ sở, nhẫn cái muộn phiền, còn có thể gắng sức vượt qua; nhưng chịu đựng sự bất công oan uổng, nhẫn một mạch, thật không dễ dàng. Nhưng cho dù như thế nào, nghĩ đến mình là người đã học Phật, biết sự thật về chân lý do duyên khởi hỗ tương nhau, hiểu rằng “nhẫn” là việc tu hành trong đời sống, tại sao không thể y theo lời giáo huấn mà phụng hành?
Có một đồ tôn, thường mua các loại khăn thêu cho tôi sử dụng, bởi vì da mặt tôi bị hỏng, đề nghị chú mua đừng có hoa văn, để tránh khi rửa mặt không thoải mái, nhưng chú lại nói một cách tự tin: “Khăn có hoa văn tương đối đẹp, Sư ông sử dụng đầu kia lau mặt, sẽ không chạm đến chỗ thêu hoa”! Than ôi! Tâm trạng cả hai không giống nhau, lời nói ra như đàn khảy tai trâu, lúc đó tôi cũng đành phải “thọ giáo”, nhẫn một chút với chú cho xong. Có khi chú thị giả chuẩn bị bữa ăn cho tôi, nếu không thiếu thìa, thiếu nĩa thì đôi đũa với một chiếc dài một chiếc ngắn, tôi không tự mình đi lấy, cũng không hề̉ quở trách. Nếu có người phát hiện nói với chú, chỉ thấy chú không chút xấu hổ, mà lại che giấu bằng cách cười lớn cho qua.

Nhớ một năm nọ vào ngày sinh nhật thứ năm mươi của tôi, có một Phật tử tại gia đặc biệt gửi tặng cho tôi một chiếc giường lò xo rất có giá trị, tôi không biết làm thế nào, vì từ nhỏ tôi đã quen ngủ giường bằng gỗ, nhưng lại không thể nói thẳng, khiến anh ta buồn phiền, từ đó đành phải đem chiếc giường làm vật trang trí, còn mình mỗi ngày ngủ trên sàn nhà, cũng được mười năm.

Có một lần, tôi nhận lời mời đến Vancouver, Canada hoằng pháp, các Phật tử có lòng tốt, mượn ngôi biệt thự đặc biệt của cư sĩ họ Trương để cho tôi ở tạm. Trong đó, có một phòng tắm thật cầu kỳ, cách khóa mở vòi nước, van nước mới mẻ, thảm trải dài, rèm tắm, bồn tắm, cực kỳ hoa lệ. Bởi vì tôi không biết sử dụng các thiết bị phức tạp, đành phải chịu đựng đến khi chuyến đi kết thúc, trở về Phật Quang Sơn tắm rửa vô cùng thoải mái.
Còn nhớ, Pháp sư Đỉnh Vũ (顶宇法师) người Hàn Quốc, Ôn cư sĩ – người môi giới đất đai ở Toronto, để thể hiện sự tôn kính đối với tôi, họ đặt một căn phòng tổng thống năm sao để tôi ở. Nhưng tôi thấy cách trang trí nội thất cực kỳ hoa lệ, không nỡ sử dụng, đành phải ngồi suốt đêm trên chiếc ghế sô-pha mãi cho đến khi bình minh. Suy nghĩ về mặt tốt, thì đây cũng là thiện ý tâm hiếu của họ, tôi làm sao có thể quở trách?

Nhớ lại thời gian của bốn mươi năm trước, khi tôi mới đến chùa Lôi Âm (雷音寺), Nghi Lan so với ngày nay, thật có thể nói là khác nhau một trời một vực. Bởi chính sách vào thời điểm đó khiến phải như vậy, gia quyến quân đội ở đầy trong các tự viện, thềm đá đã trở thành nhà trù của đại chúng, mỗi lần vào nhà vệ sinh tôi phải đợi người nấu cơm dời bếp nơi khác mới mở cửa đi vào. Lúc đầu tôi qua đêm dưới bàn Phật, sau đó, đại chúng sắp xếp cho tôi một căn phòng nhỏ, bên trong, ngoài chiếc giường tre xiêu vẹo, còn có một máy may cũ kỹ, nhưng tôi đã rất hài lòng. Mỗi khi ngủ nghỉ, tôi luôn luôn cẩn thận, khi nằm xuống không dám trở mình, sợ giường tre phát ra tiếng kêu cọt kẹt, đánh thức những người khác. Ba tháng sau, lúc tôi đi thuyết giảng trong nhà giam, nhặt được một chiếc ghế mà giám ngục không sử dụng, vui thích vô cùng, từ đó mỗi đêm, sau khi đợi mọi người đi ngủ, tôi kéo chiếc đèn điện trước bàn Phật đến cửa phòng, nằm sấp trên bàn máy may viết lách. Xem ra người thời hiện đại, có lẽ cảm thấy không thể tin được, nhưng thời đó tôi đã rất trân trọng cơ hội hiếm có này. Năm đó, tôi hai mươi sáu tuổi, lần đầu tiên trong đời tôi sử dụng đèn điện. Trước đây những địa danh mà tôi đã từng đi qua như núi Thê Hà, Tiêu Sơn, Nghi Hưng, Trung Lịch, hồ Thanh Thảo… đều không có điện, cho nên, mặc dù muỗi bay loạn đả, gián bò khắp nơi, tôi không ngủ được, cũng không thể nhẫn nại nằm trên giường, đành phải thức đêm để viết, có khi viết cho đến bình minh, tai nghe tiếng bảng mới dừng bút.
Ngày nay, hoặc ba bốn mươi năm sau, tận mắt chứng kiến những thanh niên trẻ hiện đại bụng trống lòng lại không, rêu rao nói rằng vào núi để tu hành, bế quan để đọc kinh tạng, tôi không nén nổi muôn phần cảm khái, nếu không đầy đủ phước đức nhân duyên, làm sao có thể được long thiên hộ trì? “Ba kỳ tu phước tuệ, trăm kiếp tu hảo tướng” (三祇修福慧, 百劫修相好), nếu không có tinh thần trăm nhẫn chấn hưng giáo pháp, thì làm sao thành tựu được việc lớn trong đời sống? “Suốt đời tôi đã nhẫn như thế”. Đâu chỉ là thiếu sót về vật chất, mà những cảnh trái nghịch khác về mặt tinh thần, nhân tình, sự lý, tôn nghiêm… tôi đã phải chịu đựng hàng trăm hàng triệu lần.

Năm 1991, tôi bị té ngã gãy chân trong phòng tắm, lập tức xung quanh tôi tăng thêm nhiều “người quản lý”, đệ tử này yêu cầu tôi không được ăn thức ăn này, đệ tử kia nói với tôi không thể sử dụng cây nạng nọ, chăm sóc quá chu đáo, làm cho tôi cảm thấy như bị bó buộc hơn. Có lúc thân thể mệt mỏi, chú đệ tử này cầm đến loại thuốc này, chú kia đem đến loại thuốc nọ, để hoàn thành ý tốt của họ, tôi đành phải chịu đựng uống hai loại thuốc mà họ mang đến. Có một số Phật tử nói Hoa Kỳ tốt, mời tôi đến đó hóa độ dân chúng; một số nói châu Úc tốt, châu Phi tốt, châu Âu tốt, hy vọng tôi đi hoằng pháp nơi đó trước. Để đáp ứng đầy đủ cái “tốt” của mọi người. Cho nên, chỉ có cách mệt mỏi nhẫn nại bay đi vân du khắp nơi. Tuy cực kỳ lúng túng không biết làm cách nào, nhưng nghĩ rằng trong tâm, trong mắt của mọi người tôi là một ông thầy mãi mãi trẻ trung, nên cũng đành tự mình chế giễu mình. Đôi khi quày đầu nhìn lại: “Xả thân vì người”, cố nhiên đã tiện lợi cho người khác, lại cũng làm cho tôi “Suốt đời nhẫn như thế”. Sở dĩ chân của tôi bị gãy, là vì trong lúc đang rửa tay nghe chuông điện thoại reo, sợ người gọi có việc cấp bách, vội vàng nhanh chóng lao ra khỏi phòng tắm, không cẩn thận bị trượt, mặc dù tôi đã học được vết xe đổ của người đi trước, nhưng tôi vẫn vấp phải. Tôi đã cố gắng không để chuông điện thoại reo trên ba lần, với tính cách bẩm sinh của tôi, thật ra không dễ dàng sửa đổi!

Nhắc lại cuộc sống của tôi từ khi sử dụng điện thoại, thật có thể nói là không chịu được sự quấy rối của nó. Tôi thường xuyên bị đánh thức vào lúc nửa đêm bởi tiếng gọi đến từ Tây bán cầu, Nam bán cầu, cầm điện thoại nghe, thường thường đều là những câu chuyện hời hợt không đầu không đuôi, mặc dù trong lòng cũng trách họ không biết quan tâm người khác, không tính trước giờ địa phương, nhưng vẫn dùng lời nói hòa hoãn, không gây khó khăn cho đối phương, chỉ riêng tôi lại bị một đêm mất ngủ. Sự việc này về sau có một số đồ đệ biết, luôn luôn khuyên tôi: “Sư Phụ, người đừng quản đến họ, trước khi đi ngủ, rút phích cắm của đường dây điện thoại thì xong!” Nhưng từ xưa đến nay tôi chưa từng làm như vậy bao giờ, không muốn người khác thất vọng bởi tính tình không hoan hỉ, khiến tôi chủ định “Suốt đời phải nhẫn như thế”.

Không chỉ nửa đêm lỗ tai không được thanh tịnh, mà ngay cả vào ban ngày, sáu căn cũng đan xen nhau, tay chân cũng song hành. Trong Pháp đường của tôi, luôn luôn tập hợp một số đồ chúng, mồm năm miệng mười thảo luận các sự việc với tôi, tôi không chỉ nhìn trước ngó sau, còn phải tìm cách nào nói cho thuận lợi cả hai bên, chỉ e rằng sơ sót bỏ qua một người nào đó. Đôi khi mọi người vì việc chung giằng co với nhau, tôi đã phải làm trung gian hòa giải mấy giờ đồng hồ, thật là miệng khô lưỡi khát, sức cùng lực kiệt. Ra khỏi Pháp đường, trên đường đi còn có người cần tôi ghé qua văn phòng, rồi cầm một chồng báo cáo dạng bảng, hy vọng tôi có thể chỉ vẽ một vài chỗ, mặc dù tôi có tính nhẫn nại, có tâm thành toàn cho họ, nhưng mà lúc đó giữa đường không có dự liệu trước, nhưng cũng phải nghe. Nếu gặp phải các giáo hữu tín đồ, thì họ vừa chắp tay lễ bái, lại vừa mời tôi chụp ảnh lưu niệm, rõ ràng lộ trình ngắn ngủi chỉ có năm phút, mà đã đi trên nửa giờ đồng hồ.
Từ mười năm trước, tôi cùng phái đoàn đi tham quan nước ngoài rất nhiều lần, đến những năm gần đây tần số đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới cũng không phải là ít, càng không có gì hay đáng để nói. Thường thường bay khoảng vài giờ, khi máy bay đáp xuống phi trường thì bị mọi người bao vây, chụp ảnh, nói chuyện chiếm hầu hết thời gian, thậm chí muốn rửa mặt, đi vệ sinh cũng đều không có khoảng trống, cho đến tận đêm khuya, tôi không cách nào về liêu phòng nghỉ ngơi. Mỗi ngày đều như vậy, vòng đi vòng lại, sau một vài tuần, lại ngồi xe đến phi trường bay đến nơi khác. Tuy nói là hành khước nhiều thành phố nổi tiếng, nhưng trong thực tế chưa từng ngắm xem phong cảnh thoải mái; tuy nói là đi khắp danh lam thắng cảnh trên thế giới, nhưng kì thực chưa từng tham quan những nơi đó một cách tỉ mỉ, chỉ là đến như không đến, đi như chưa đi, đành tuyên bố đến đây viếng thăm một chuyến mà thôi.

Vài mươi năm nay, hầu như tất cả việc lớn việc nhỏ trong đạo tràng Phật Quang Sơn đều do bàn tay tôi xây dựng, sau khi hoàn thành, tôi lập tức bàn giao cho các đệ tử quản lý. Từ một cái bàn, một chiếc ghế bên trong, cho đến một viên gạch, một miếng ngói, đều bao hàm kinh nghiệm và thành quả hoạt động tư duy của tôi trong nhiều năm nay. Nhưng các đệ tử của tôi sau khi lãnh trách nhiệm, chẳng những không làm theo ý thích của tôi, lại còn không đến để thưa thỉnh tham khảo ý kiến, mà thay đổi một cách dễ dàng những hệ thống như đào tường vách, thậm chí đổi cả tượng Phật, đổi cả quy trình. Khi tôi đi xem xét trước sau, tất cả mọi thứ đã cải biên hoàn toàn đến nỗ̉i “không còn nhận ra”, đệ tử đảm nhiệm trụ trì đứng một bên còn hỏi tôi: “Thay đổi như vậy có tốt không”? Xưa nay tôi không thích phủ nhận chủ trương của người khác, mặc dù trong lòng không cho là đúng, cũng đành phải nói, “Tốt”. Tuy bao nhiêu sự nhẫn nại chất chứa trong lòng, nhưng một tiếng “tốt” này, buông bỏ bao nhiêu là phiền toái, mang cho mọi người bao nhiêu là niềm vui, xóa bỏ bao nhiêu là vấn đề giữa hai thế hệ, câu trả lời “tốt” này rất đáng!

Tôi có đệ tử xuất gia hơn nghìn người, Phật tử tại gia hơn triệu người, nhưng lúc vui họ sẽ không đến tìm tôi, một khi đến cửa, nhất định là có chuyện buồn, mà còn nói là “khẩn cấp”, dù bận rộn mệt mỏi thế nào, tôi cũng đành phải “hằng thuận chúng sanh” cho gặp mặt, rồi lắng nghe, an ủi, khuyến khích. Dựa vào nhiều năm kinh nghiệm của mình, tôi cũng đã giải quyết nhiều chứng bệnh nghi ngờ của họ. Nhưng cũng có một số đệ tử nói với tôi: “Thưa sư phụ, Thầy chỉ dạy chúng con phải kiên nhẫn, lẽ nào ngoài kiên nhẫn, không còn cách gì khác hay sao?” Thật vậy, cách duy nhất, sức mạnh duy nhất trong cuộc sống của tôi, chính là phải nhẫn nại.

Hồi tưởng lại một đời của tôi, đúng như Trần Thành (陈诚)** đã nói: “Làm việc, cần phải nhẫn nại; cầu toàn, cần phải chịu oan ức” (为做事, 必须忍耐; 为求全, 必须委屈). Tuy “suốt cuộc đời tôi đã nhẫn nhục như thế”, nhưng đã thức tỉnh bao nhiêu mê hoặc sai lầm của chúng sanh, đã thành tựu bao nhiêu Pháp thân tuệ mạng cho giới Tăng Ni. Thế nên, tôi cầu nguyện đời đời kiếp kiếp trở lại cõi Ta Bà, để thân Tỳ kheo này vĩnh viễn kham nhẫn làm lợi lạc cho chúng hữu tình.

Đại sư Tinh VânThanh Như (dịch)


Chú thích:
* Quốc Phiến (国片): phim ảnh của người Đài Loan tự đầu tư, chế tác, sản xuất.
** Trần Thành (陈诚 1898-1965): Viện trưởng hành chánh khu vực Đài Loan.
Theo Phật Quang Sơn Đài Loan (台湾佛光山).