6 C
London
Monday, December 6, 2021

Chữ Hiếu qua kinh điển Phật giáo

  “Hiếu tâm tức thị Phật tâm
Hiếu hạnh vô phi Phật hạnh”.

Nghĩa là:

Tâm Hiếu tức tâm Phật
Hạnh Hiếu tức hạnh Phật.

Trong Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật dạy: “Chúng sanh sanh trong đời không gặp Phật, khéo thờ Cha, Mẹ, như thờ Phật vậy”.

Hàng năm cứ mỗi độ lá vàng rơi, báo hiệu mùa Thu sắp đến, mùa Báo Hiếu lại trở về, làm cho chúng con bùi ngùi chạnh nhớ đến song thân.

Thật vậy, khi cảnh vật chuyển mình thay đổi, gió Thu lành lạnh lùa vào, khiến cho chúng con thấy lòng mình xao xuyến. Ai đã từng nghe lòng mình lâng lâng khi chuông chùa vọng đổ? Tiếng chuông ấy như thúc giục thức tỉnh chúng con, âm vang thấu suốt ấm cúng, để cứu vớt các vong linh đang khổ đau nơi địa ngục. Biết đâu chừng, trong địa ngục ấy, Ông Bà, Cha Mẹ của chúng con đang đợi chờ trông ngóng.

Vài vần thơ mang trọn niềm hiếu kính:
Lá vàng rơi rụng ở bên song
Đưa mắt nhìn ra thấy chạnh lòng
Mang mác nỗi niềm bao thương nhớ
Mẹ hỡi giờ này con nhớ mong!!!
Chuông vang ngân vọng mấy từng không
Se thắt lòng con ướm lệ hồng
Xót xa nghĩ đến ơn nuôi dưỡng
Thao thức trong lòng Mẹ biết không?

Ngày xưa, Ngài Mục Kiền Liên sau khi tu hành chứng đạo, Ngài thương nhớ, nghĩ đến việc báo đáp công ơn của Mẹ là bà Thanh Đề, là phu nhân của vị Phó tướng. Ông Phó tướng đức độ bao nhiêu, thì ngược lại bà Thanh Đề tàn ác bấy nhiêu. Vì biết rằng lúc sanh tiền Mẹ Ngài tạo nhiều tội lỗi, nên khi chết khó thoát khỏi cảnh khổ trong ba đường ác. Nên Ngài đã vận dụng thần lực đi tìm Mẹ khắp nơi, từ trên các cõi trời, đến những cảnh khổ ở địa ngục, nhưng vẫn không biết Mẹ Ngài đọa lạc nơi đâu, đành phải trở về bạch Phật. Đức Phật dạy rằng: “Mẹ ông lúc sống không tin Tam bảo, tham lam, độc ác, nên sau khi chết phải đọa vào Đại địa ngục. Nghe như thế Ngài Mục Kiền Liên nghẹn ngào khóc lóc và đi tìm Mẹ. Đi qua các cửa ngục, Ngài tận mắt thấy sự tra tấn khổ sở đối với các tội nhân. Ngài đưa mắt kiếm tìm vẫn chưa gặp Mẹ. Cuối cùng Ngài đến một địa ngục, tường cao vạn trượng, cửa đóng kín mít, gọi thì không ai mở, cuối cùng Ngài lại quay về cầu xin Phật chỉ dạy. Đức Thế Tôn bảo: “Chính Mẹ ông ở trong địa ngục ấy và phải chịu cực trọng tội. Dù ông đã chứng thần thông, nhưng mình ông không thể nào cứu nổi. Ông phải nhờ oai thần của chư Phật và oai lực của Tăng già, đọc tụng kinh điển Đại thừa, để sám hối nghiệp ác của Mẹ ông, mới mong thoát khỏi được khổ báo ấy”. Ngài Mục Kiền Liên, làm đúng theo lời Phật dạy, thiết lễ Trai Tăng dâng lên cúng dường mười phương chư Phật và hiện tiền các vị Thánh Tăng quyền hiện Tỳ-kheo, tu hành ở tại thế gian. Nhờ đó, mà Mẹ Ngài đã được giải thoát, sanh lên cõi trời Đao Lợi, hưởng được mọi sự an vui khoái lạc. Ngài Mục Kiền Liên là tấm gương sáng chói, đại diện cho hàng Thanh văn, thể hiện tấm lòng hiếu kính đối với mẫu thân, khiến chúng sanh muôn đời vâng theo, để báo đáp công ơn cao cả của Cha Mẹ trong muôn một.

Vào thời Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, có một người con gái dòng Bà-la-môn, người này nhiều đời chứa phước sâu dày, mọi người đều kính nể. Nhưng có người Mẹ lại tin theo tà đạo, không tin Tam bảo, không tin nhân quả, mặc dù con gái đã dùng nhiều lời phương tiện khuyên nhủ, hầu làm cho người Mẹ sanh Chánh kiến, nhưng bà chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu sau, bà mẹ chết, đọa vào vô gián địa ngục. Người con nhìn thấy nghiệp nhân của Mẹ, lúc còn sống không tin nhân quả, tạo nhiều tội ác, ắt sẽ sa vào ba đường ác. Nghĩ như thế rồi, Bà-la-môn nữ bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương hoa đem cúng dường các chùa tháp thờ Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Nhờ lòng chí thành, chí kính của Thánh nữ Bà-la-môn, mà tội nữ Duyệt Đế Lợi (thân mẫu của Bà-la-môn nữ) được sanh lên cõi trời Đao Lợi. Bấy giờ, Thánh nữ dường chiêm bao chợt tỉnh rõ biết việc đó rồi, bèn đối trước tháp tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà thề rằng: “Tôi nguyện từ nay đến đời vị lai, những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước cứu giúp làm cho chúng sanh đó được giải thoát”. Đức Phật Thích Ca bảo Bồ tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Thánh nữ Bà-la-môn đó, nay là Địa Tạng Bồ tát vậy”.

Lại vào thời Ngài Liên Hoa Mục Như Lai ra đời, có một người nữ tên là Quang Mục, lúc ấy gặp vị A-la-hán đi hóa duyên, Quang Mục sắm sửa đồ ăn cúng dường La-hán. La-hán thọ cúng rồi hỏi: “Nàng muốn những gì? Quang Mục thưa rằng: “Lúc sanh tiền thân mẫu con chỉ ưa ăn thịt loài cá trạnh, phần nhiều là thích ăn cá con, và trạnh con, hoặc chiên hoặc nấu, tha hồ mà ăn cho thỏa mãn. Xin Tôn giả thương xót chỉ dạy phải làm cách nào để cứu thân mẫu của con?”. La-hán chỉ dạy: “Phải đem lòng chí thành mà niệm Đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và vẽ đắp hình tượng Đức Phật”. Đêm đó, nàng chiêm bao thấy thân của Đức Phật sắc vàng sáng chói như hòn núi Tu Di. Đức Phật phóng ánh sáng mà bảo Quang Mục rằng: “Chẳng bao lâu đây thân mẫu ngươi sẽ thác sanh vào trong nhà của ngươi, khi vừa biết đói lạnh thời liền biết nói”. Sau đó, đứa tớ gái trong nhà sanh một đứa con trai, chưa đầy ba ngày đã biết nói. Trẻ đó buồn khóc mà nói với Quang Mục rằng: “Tôi là Mẹ của Người, lâu nay ở chỗ tối tăm, từ khi vĩnh biệt Người tôi phải đọa vào địa ngục. Nhờ phước lực của Người nên nay được thọ sanh làm kẻ hạ tiện, nhưng số mạng ngắn ngủi, đến năm mười ba tuổi, chết sẽ đọa vào địa ngục nữa”. Quang Mục nghe xong than khóc rơi lệ mà bạch cùng giữa hư không rằng: “Nguyện cho thân mẫu con khỏi hẳn địa ngục khi mãn mười ba tuổi, không còn có trọng tội và không còn đọa vào ác đạo nữa, cũng như chúng sanh trong ngàn muôn ức kiếp về sau, bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, con xin cứu vớt hết thảy, đợi đến khi các chúng sanh ấy thành Phật cả rồi, vậy sau con mới thành bậc Chánh Giác”. Ngài Quang Mục thuở trước, nay chính là Ngài Địa Tạng Bồ tát vậy. Ngài Địa Tạng là tiêu biểu hạnh hiếu thảo của hàng Bồ tát, với hạnh nguyện kham nhẫn để hóa độ chúng sanh, nan điều nan phục ở cõi Ta-bà này, thật là hy hữu.


Các bậc tu hành chứng được quả Thanh văn như Ngài Mục Kiền Liên, đối với công ơn sanh thành vẫn thao thức trong lòng mong ngày đền trả công ơn sâu dày ấy. Còn Ngài Địa Tạng Bồ tát đã nhiều kiếp vì Mẹ mà phát nguyện tu hành, vào tận địa ngục để giáo hóa chúng sanh không biết mệt mỏi. Ngài thệ rằng: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề”.

Ôi! Thật là cao quí với hạnh nguyện cao cả, với tấm lòng hiếu thảo của vị Bồ tát đi vào đời bằng hạnh nguyện bao dung.

Còn Đức Phật Thích Ca đã từng lạy đống xương khô trước sự ngạc nhiên của hàng đệ tử. Đức Phật nhân đó phân tích cho đệ tử thấy rằng: “Người Mẹ vì sinh con nên phải hao mòn thân thể. Tháng đầu chỉ như giọt sương. Tháng thứ hai như sữa đặc. Tháng thứ ba như cục máu đông. Tháng thứ tư đã tượng ra hình. Tháng thứ năm đầy đủ tay chân. Tháng thứ sáu đầy đủ sáu căn. Tháng thứ bảy cốt xương gân mạch hình thành. Tháng thứ tám lục phủ ngũ tạng phát sinh. Tháng thứ chín nên vóc nên hình. Tháng thứ mười nở nhụy khai hoa.
Vì công ơn của Mẹ gần mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo nhường con, trong kinh Báo Hiếu, Đức Phật dạy rằng: “Làm con vai mặt cõng Cha, vai trái cõng Mẹ đi giáp vòng hòn núi Tu-di, cũng chưa trả được công ơn trời biển của Cha Mẹ”.

Đức Phật Thích Ca trước khi nhập Niết-bàn đã vận thần thông lên cung Trời Đao Lợi để thuyết pháp cho Thánh Mẫu Maya nghe. Vì khi sinh Ngài được bảy ngày, Hoàng Hậu từ trần, được sanh lên cõi trời Đao Lợi. Đức Phật đã thuyết pháp ba tháng (từ tháng 4 đến tháng 7), trước là đền đáp công ơn của mẫu thân, sau nhơn đó để giáo hóa chư Thiên, cùng Long, Thần bát bộ, cả thảy phàm thánh. Rồi đến khi Vua Tịnh Phạn băng hà, Đức Thế Tôn kề vai khiêng kim quan của Phụ hoàng đến nơi Trà tỳ. Đức Phật Thích Ca tiêu biểu cho lòng hiếu thảo của bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Qua kinh Địa Tạng, kinh Báo Ân Phụ Mẫu và Mục Liên Sám Pháp v.v… chúng ta thấy, từ cổ chí kim, từ vua quan cho đến thường dân, Sĩ, Nông, Công, Thương, ai ai cũng có Ông Bà, Cha Mẹ. Nếu không có cội nguồn huyết thống thì làm sao chúng ta khôn lớn và góp mặt với đời, để xây dựng một xã hội văn minh, giàu mạnh. Vậy chúng ta cần phải làm gì để báo đáp ân đức ấy cho xứng đáng?

“Tình Mẹ chất ngất non cao
Thơ văn con trẻ không sao hết lời
Trùng dương rẽ sóng ra khơi
Trần gian hai tiếng “Mẹ ơi” không đầy”.

TKN. Phước Giác

TIN KHÁC
TIN LIÊN QUAN