Chánh tư duy

382

HĐ  Chiếu soi bừng sáng tâm mình
Căn, Trần tiếp xúc phân minh rõ ràng.

Chánh Tư Duy là một trong tám món Bát Chánh Đạo. Chánh Tư Duy là quán chiếu về sự Sinh, Lão, Bịnh, Tử của kiếp người. Vì đó là sự hiển nhiên, là một chơn lý không thể nào thay đổi khác hơn được. Sau khi Đức Thế Tôn thành đạo dưới cây tất bát la (cây bồ đề). Ngài đến Lộc giả uyển thuyết pháp Tứ đế độ năm anh em Kiều Trần Như.

Bài pháp ấy được nhắc đi nhắc lại ba lần, gọi là Tam Chuyển Pháp Luân: Thị Chuyển; Chứng Chuyển và Khuyến Chuyển.

• Thị Chuyển: Ngài xác định đây là Khổ; đây là Tập; đây là Diệt; đây là Đạo.
• Chứng Chuyển: Ngài tuyên bố rõ ràng cho chúng sanh biết, đây là khổ Ta đã rõ. Đây là Tập, là nguyên nhân chứa nhóm các việc đưa đến khổ não, Ta đã tìm ra nguồn gốc của nó. Đây là Diệt là Niết Bàn vắng lặng Ta đã chứng. Đây là Đạo là con đường Ta đã tu khổ hạnh sáu năm và bốn mươi chín ngày tham thiền nhập định.
• Khuyến Chuyển: là khuyên chúng sanh
– Đây là khổ các ông nên tránh.
– Đây là Tập là nơi chứa nhóm, gây ra đau khổ, các ông phải biết nguyên nhân.
– Đây là Diệt là quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ta đã chứng. Các ông ráng chuyển hóa phiền não, khổ đau rồi cũng sẽ chứng được như ta.
Trong Kinh Phạm Võng, Đức Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”.
– Đây là Đạo: là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là những Pháp môn ta đã tu học, các ông nên cố gắng hành trì, sẽ được lợi ích rất lớn.
Giáo lý Đạo Phật dạy: Con người là thành quả của một hợp chất duyên sanh từ Ngũ ấm, Thất đại mà thành. Hiện tượng vạn pháp thiên sai vạn biệt hiện hữu trên cõi đời, không có pháp nào ngoài Thất đại mà có. Thất đại là: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức.
– Da thịt con người gọi là Địa đại.
– Máu huyết, nước tiểu, nước miếng là Thủy đại.
– Hơi nóng trong người là Hỏa đại.
– Hơi thở ra vào là Phong đại.
– Không gian để lục phủ, ngũ tạng chúng ta sinh hoạt là Không đại.
– Sự thấy của con mắt là Kiến đại.
– Nhận thức phải có sự cộng tác của giác quan thứ sáu là Thức đại.

Tuy Địa đại không phải là con người, nhưng không có Địa đại thì không có con người. Cho đến Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại,… cũng đều như thế. Mình phải tư duy soi rọi bằng cái trí tuệ, nhận thức được chân lý “phản bổn hoàn nguyên”, là trở về cội nguồn, mọi người ai ai cũng có Phật tánh, có Chơn Như, ấy là tánh biết, đó là diệu dụng tâm linh biểu hiện. Biết thấy, biết nghe, biết ngửi, biết nếm, biết xúc, biết thọ, biết đúng, biết sai, biết tới, biết lui, biết đủ, biết thiếu, biết lành, biết dữ, biết ghét, biết thương, biết thời, biết phi thời, biết giả, biết có, biết không, biết mê và biết giác. Do đâu mà biết rõ ràng như vậy, là do tư duy quán tưởng. Các nhà Bác học họ cũng suy nghiệm để chế tạo ra máy móc sử dụng trong ngành y học, đó cũng là Tư duy tìm ra phương pháp cứu người, lợi ích cho nhân quần xã hội. Cũng có nhà Bác học họ chế tạo ra vũ khí hạt nhân, gây ra chiến tranh, chỉ cần bấm nút là giết hàng loạt người trên trái đất này, làm tuyệt chủng muôn loài vạn vật. Đức Phật gọi những người đó là thế trí biện thông, cũng là một trong tám nạn được diễn tả trong Kinh.

1. Manh (đui).
2. Lung (điếc).
3. Ấm (câm).
4. Á (ngọng).
5. Sanh tiền Phật (sanh trước Phật).
6. Sanh hậu Phật (sanh sau Phật).
7. Sanh ở xứ Bắc câu lô châu.
8. Thế trí biện thông.

Còn trí tuệ của vị Thiền sư, chư Tổ, Chư Phật là do tu GIỚI tu ĐỊNH phát sanh ra TRÍ TUỆ. Trí tuệ đó bao trùm đức tính TỪ BI, luôn luôn khai mở cho chúng sanh một kiến thức siêu việt, để thoát ly sinh tử luân hồi.

Đến như Đức Phật thành tựu đạo quả vô thượng Bồ đề, trong lúc tu nhơn hành đạo cũng chỉ cần một chữ “Biết”, đó là biết vô minh không tự tánh, vô minh ví như hoa đốm trong hư không. Cho nên, vô minh tác động hoành hành không chi phối được Phật tánh vốn có của mình, gọi là thành Phật.

Người đệ tử của Phật lúc nào cũng tư duy quán tưởng thân này là giả hợp do Ngũ uẩn Thất đại hợp thành, đủ duyên nó hòa hợp gọi là sanh, hết duyên tan hoại gọi là chết (diệt). Cho nên, chết không có nghĩa là mất mà là “phản bổn hoàn nguyên”. Luôn luôn chấp trì Giới Định Huệ để phát huy kiến thức, Phật tánh sẵn có của mình, mới mong đạt được phần nào an lạc trong cuộc sống.

Xin kể câu chuyện cái Linh và vị Thiền sư.

Ngày xưa có một Thiền sư ban đầu Ngài hay nhập thất tại chùa, mỗi tháng 10 ngày. Sau rồi Phật tử đến thăm viếng và hỏi đạo, Ngài thấy cũng bận rộn. Một hôm Ngài lén Chùa bỏ đi vào rừng, lâu lâu dân làng thấy Ngài xuống núi để khất thực độ tuần lễ. Bà con để ý đến ngày Thiền sư hạ sơn, thì dân làng lại cúng thức ăn cho Thầy. Thấm thoát thời gian độ mười năm, có một cô gái nọ thương Thầy, Thầy từ chối, vội vã trở về núi, Thiền sư đốt bỏ thảo am, chỗ hàng ngày Ngài dùng để tu luyện. Từ đó những người tiều phu chẳng còn thấy bóng dáng Thiền sư đâu cả, và những lần hạ sơn để Phật tử hữu duyên cúng dường cũng không còn. Tin tức về Thiền sư, không còn ai nhắc đến nữa và cũng chẳng ai biết Ngài đi đâu? Còn hay chết? Hoặc còn tu hay đã hoàn tục?

Một ngày kia nhà Vua truyền lệnh tìm cho được gỗ quý để đóng ngai vàng cho Vua. Thế là các tiều phu lão luyện được các Quan mời đến, nhờ vào núi sâu để tìm cho được loài danh mộc. Trải qua nhiều tháng băng rừng vượt suối, cuối cùng từ xa họ nhìn thấy một cây cành lá xum xuê. Mừng quá họ đến gần dùng cưa để hạ cây. Song thân cây rắn chắc, lưỡi cưa nào cũng bị gẫy, cuối cùng họ nhìn kỹ giống như một người ngồi, họ nghĩ rằng “Thọ thần” (là vị thần cây), có người góp ý, nếu là Thần Thánh, sao dám hiện ban ngày, hay là người ta. Thế là họ đến dùng đủ cách để gọi, nhưng hầu như vị này không nghe, mà thân cây mọc bao quanh, chỉ còn thấy trước mặt và bụng. Người ta không biết làm gì hơn, trở về kinh thành tâu chuyện này lên Vua. Nhà Vua mời Quốc Sư đến thỉnh ý, Quốc Sư nói: “Tâu bệ hạ, theo thiển ý của tôi, những vị Thiền sư nhập đại định, thì không gì lay gọi được, chỉ có cách dùng linh lắc bên tai, Thiền sư nghe xong xả thiền, mình mới đốn cây được. Vì khi vị ấy trụ đại định, thì có chư Thiên chư Thần ủng hộ, nên không cưa, búa gì phá đốn nổi”. Nghe xong nhà Vua cho làm như vậy, quả nhiên Thiền sư xả thiền, hỏi thì Thiền sư chẳng biết nhập định từ lúc nào, chỉ thấy râu, tóc dài xuống lưng, da mặt hồng hào, gương mặt hiển lộ nét Từ bi. Từ đó đến nay, trong Thiền môn thường dùng chiếc Linh để thức chúng, lắc Linh để báo hiệu giờ tụng Kinh, hay lắc Linh để nhóm chúng hội họp.

Trần trần tự tại đâu vướng bận
Pháp pháp viên dung chẳng nghĩ bàn.

TKN. Phước Giác


Tài liệu tham khảo:
HT. Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông.