Chánh kiến

538

  Như Lai chỉ dạy đành rành
Phải mau thoát khỏi lợi danh sáu đường
Tám phương, bốn hướng tai ương
Lợi, Suy, Hủy, Dự nào lường được đâu!

Đức Phật dạy cho đệ tử của Ngài tám con đường tám ngành đưa đến giải thoát khổ đau. Đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
– Chánh kiến: thấy biết chơn chánh.
Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy: “Tam giới vô an, du như hỏa trạch”. Nghĩa là ba cõi không an, ví như nhà lửa.

Vậy ba cõi là gì? Là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Ở Dục giới chúng sanh thường đam mê dục vọng. Trong Kinh, Đức Phật dạy rằng: “Ái bất nhiễm bất sanh Ta Bà, niệm bất nhất, bất sanh Tịnh Độ”. Nếu chúng sanh không còn luyến ái thì không sanh trở lại cõi Ta Bà ngũ trược ác thế này. Còn như niệm Phật không chuyên nhất, tâm mình bị vọng niệm xen tạp, thì khó mà vãng sanh về thế giới an lành của Đức Phật A Di Đà. Khi con người đam mê vật chất, lúc ấy là mình đang sống ở cõi dục giới. Cũng vẫn con người này, mà mình tin tưởng vào đấng siêu hình, hoang đường, mắt chúng ta không nhìn thấy được, tức mình đang sống ở cảnh Vô Sắc giới.

Do ba thứ đam mê sai lầm chơn lý. Vì vậy, con người không hề có an lạc, yên ổn, thanh thản và tự do, đó là nghĩa của “Tam giới vô an”.

Khi con người không có an lạc, thanh thoát, bức bách khổ đau trăm điều, giống như ở trong ngôi nhà lửa đang cháy ngùn ngụt, đó là nghĩa của câu “du như hỏa trạch”.

Giáo lý của Đức Phật hướng dẫn cách thức, vạch ra cho chúng sanh con đường thoát ly sanh tử luân hồi. Ngài đủ điều kiện cho chúng sanh tôn xưng Ngài là bậc THIÊN NHÂN CHI ĐẠO SƯ, TỨ SANH CHI TỪ PHỤ (Thầy của Trời người, Cha lành chung bốn loài) và được chúng sanh tôn xưng là THẾ TÔN. Vì Ngài có đủ khả năng diệt trừ vô minh là cội gốc tạo ra phiền não, triền phược. Ngài thị hiện ra đời bằng da bằng thịt như chúng ta, nhưng Ngài đã dùng gươm trí tuệ, cắt đứt sợi dây oan trái nên Ngài đã thành Phật… Vì Ngài đã đưa đường chỉ lối cho chúng sanh nên gọi là Đạo sư. Trần gian là cõi tạm ai cũng biết, chúng ta nhìn đời bằng nhục nhãn, con mắt cha mẹ sanh ta, nên cái thấy bị kẹt hai bên. Vì nghiệp lực chiêu cảm, nên chúng sanh sinh ra đời, hoàn cảnh khác nhau, nghiệp chướng khác nhau. Trong một xã hội có nhiều ngành nghề, trình độ khác nhau: Sĩ, Nông, Công, Thương. Còn người thì có hai hạng: giàu và nghèo, nhưng nỗi khổ niềm đau thì lại giống nhau. Trong Kinh, Đức Phật dạy: Bố thí thì được giàu sang, nói về bố thí thì gồm có: tài thí, pháp thí và vô úy thí, nên việc bố thí này không đợi giàu sang mới làm được. Còn xan tham, bỏn xẻn thì bần cùng, khốn khổ… Nhưng cũng có lắm lúc giàu sang mà họ vẫn đau khổ, không khổ chồng, thì lại khổ con, hoặc giả lắm của nhiều tiền mà chết non, yểu số, muốn mong sống thêm để thọ hưởng, nhưng nào được vừa ý! Có tiền mua máu, mua thuốc, nhưng không mua được mạng sống con người. Hoặc giả mua được căn nhà xinh đẹp, nhưng không mua được mái ấm gia đình, nên giàu chưa hẳn là sung sướng. Người nghèo thì vất vả hơn, khi muốn làm việc gì, thì không thể thực hiện được. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết tu, biết áp dụng lời dạy của Đức Phật, thì chúng ta cũng sống trong hạnh phúc vô biên. Ngài bảo rằng: “Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc. Bất tri túc giả, tuy xứ thiên đường diệc bất xứng ý”. Nghĩa là người biết đủ tuy nằm đất cũng an lạc. Ngược lại, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý. Đức Phật nhìn đời bằng con mắt tuệ giác Ngài thấy rõ con người trong cõi trần gian không có người nào được an ổn, thanh thản, tự do như ý muốn. Bởi qua tuệ giác của Đức Phật, tất cả con người đều bị thế lực vô minh chi phối, áp lực sai sử như ba hình thức đam mê kể trên. Cuộc sống trần gian lắm điều bức bách khổ đau. Tám thứ gió luôn luôn chuyển động, đó là: Lợi, Suy, Hủy, Dự, Cơ, Xưng, Khổ, Lạc.

* Lợi: là tiền tài, bổng lộc, muốn có tiền phải ra sức làm ăn, giao tế bạn bè, lớn thuyền lớn sóng.
* Suy: muốn có danh tiếng ở đời, thì phải phô trương mở công ty, xí nghiệp, nhưng nếu không quản lý nổi, người khác phá tán thì sạt nghiệp.
* Hủy: của cải tiêu tan thì làm gì có bạn bè. Người xưa thường nói: “Khó giữa chợ không ai hỏi han, giàu lâm san nhiều kẻ tìm đến”. Ngày nào bạn bè chén tạc, chén thù, giờ thì ngồi đây để nuối tiếc một thời oanh liệt đã qua.
* Dự: là tâng bốc, khi mình có một chút địa vị gì đó, thì người này một điều cũng thưa ông giám đốc, hai điều cũng chú mầy, cô mầy, khi không còn địa vị nữa thì ôi thôi đường ai nấy đi.
* Cơ: cơ hiềm, phỉ báng, khi mình có thế lực, giúp đỡ ai được, thì họ tâng bốc đưa lên. Giúp được chín việc không ai nhắc tới, còn một việc không giải quyết cho xong, thì họ nhắc hoài, chê bai, gièm xiểm.
* Xưng: khen tặng, tán dương, thổi phồng, lăng xê, ông bà ta thường nói: “Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau trái bồ hòn cũng méo” là vậy.
* Khổ: có tam khổ và bát khổ
– Tam khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.
– Bát khổ: sanh, lão, bệnh, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ.
* Lạc: an lạc, cầu việc gì như ý muốn thì vui mừng, nhưng ở đời có tiệc vui nào mà không tàn, chẳng hạn khi lớn lên lập gia đình, ngày lên xe hoa là vui, nhưng cái khổ triền miên kéo dài theo sau, hễ không khổ thiếu hụt, thì cũng khổ chồng, khổ con. Đức Phật dạy: “Vui trong chốc lát vui rồi khổ, khổ để tu hành, khổ hóa vui”.
Người đệ tử Phật phải tự kiểm tra mình, từng phút, từng giây, gọi là tỉnh thức hoặc là thắp sáng hiện hữu. Nếu để ba nghiệp thân, khẩu, ý của mình chạy theo thế lực của vô minh, nghĩa là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không làm chủ được, tức bị chúng nó nhận chìm xuống hố sâu tội lỗi.
Chánh kiến là thấy biết chơn chánh, canh chừng sáu tên giặc đừng để chúng lừa.

Sáu tên giặc, phải canh chừng
Khởi tâm bất chánh nên dừng lại ngay
Hành theo giáo pháp Như Lai
Thân tâm an lạc vui thay phép mầu.

TKN. Phước Giác


Tài liệu tham khảo:
Phật học phổ thông của HT. Thích Thiện Hoa.