Câu chuyện “Thôi Xao”

52

  Trong sáng tác và nghiên cứu văn học, nhất là trong văn học cổ điển khu vực Đông Á, trong đó có Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến hai chữ “Thôi, Xao”. Hai chữ này nghĩa là gì, bắt nguồn từ điển tích điển cố nào, mà tại sao khi sáng tác, các nhà thơ hay nhắc đến?


Chuyện xuất phát từ nhà thơ Giả Đảo đời nhà Đường (618-907) ở bên Tàu.

Giả Đảo 賈島 sinh năm 779, mất năm 843, quê ở ngoại ô Bắc Kinh, một nhà thơ đời Đường thuộc trường phái thơ Khổ ngâm, hoặc Quái đản1, tự Lãng Tiên, hiệu Kiệt Thạch Sơn Nhân, đi thi nhiều lần không đỗ2, về sau xuất gia tu Phật tại Lạc Dương, rồi về ở chùa Thanh Long kinh đô Trường An. Sau nghe lời Hàn Dũ, ông hoàn tục, làm chức quan nhỏ tại vài huyện thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Ông để lại Trường Giang tập, gồm 10 quyển, những bài thơ được nhiều người truyền tụng như Độ Tang Càn, Tầm ẩn giả bất ngộ, chùm Tuyệt cú, v.v..
Khi ở Trường An, có lần Giả Đảo bị lính bắt trói mất một buổi chiều, chỉ vì xô phải quan Kinh Triệu doãn Lưu Thê Sở, khi ông đang đi giữa đường, ngâm nga tìm vế đối cho câu “Lạc diệp mãn Trường An 落葉满長安 (Lá rụng đầy Trường An), bất chợt nghĩ ra câu “Thu phong xuy Vị Thủy” 秋風吹沬水 (Gió thu thổi sông Vị).

Cũng ở Trường An, có lần Giả Ðảo cưỡi lừa ngâm thơ, chợt nghĩ ra được hai câu ngũ ngôn “Điểu túc trì biên thụ, / Tăng thôi nguyệt hạ môn” 鳥宿池邊橱, 僧推月下門. (Chim đậu [ngủ] cây bến nước, / Sư đẩy cửa dưới trăng. NCL dịch), nhưng sau đó ông nghĩ lại và sửa câu sau thành “Tăng xao nguyệt hạ môn” 僧搞月下門 (Sư gõ cửa dưới trăng. NCL dịch). Trên đường đi, ông đang miên man suy nghĩ và lưỡng lự, phân vân nên dùng chữ THÔI 推 (đẩy) hay chữ XAO 推 (gõ) trong câu thơ trên, ông vừa đi vừa giơ tay làm động tác “đẩy” và động tác “gõ”, mãi lo tập trung nghĩ về một chữ trong câu thơ đến nỗi quên lãng, không tránh đường cho xe của quan Hàn Dũ3 (768-824) chạy qua. Hàn Dũ cho dừng xe. Sau khi rõ sự tình, Hàn Dũ khuyên Giả Đảo nên dùng chữ XAO hơn là chữ THÔI, vì XAO vừa có động tác ‘gõ’ lại vừa có âm thanh (vì đã gõ thì phát ra tiếng), còn THÔI chỉ có mỗi động tác ‘đẩy”. Từ đó hai người quen nhau. Giả Đảo cảm ơn Hàn Dũ rồi tiếp tục hành trình.

Người đời sau ghi lại câu chuyện này thành một giai thoại văn chương, và hai chữ Thôi, Xao (Đẩy, Gõ) trở thành một điển cố văn học, người ta dùng từ “thôi xao” để chỉ sự cân nhắc, lựa chọn, gọt đẽo từ ngữ một cách hơi quá đáng trong văn chương, nhất là trong phép làm thơ, phải dùng từ ngữ sao cho chính xác nhất, hàm súc nhất, biểu cảm nhất và đắc địa nhất.

Khi về lại chùa nơi ông tu hành, Giả Đảo nhớ lại hai câu thơ ứng tác trên đường nơi phố thị, ông ngậm ngùi rồi cảm khái ứng tác ngâm một bài ngũ ngôn tuyệt cú. Bài thơ như sau: “Nhị cú tam niên đắc, / Nhất ngâm song lệ lưu. / Tri âm như bất thưởng, / Quy ngoạ cố sơn thu”. 二句三年得,一吟雙淚流.知音如不賞,歸臥故山秋.

Dịch nghĩa: Hai câu trong ba năm mới được, / Ngâm lên một tiếng hai hàng nước mắt chảy ra. / Người hiểu được lòng mình (tri âm) hình như không thể thưởng thức, / (Thôi thì đành) trở về nằm ở núi thu xưa.

Dịch thơ: Ba năm viết được hai câu4, / Ngâm lên một tiếng hàng châu dầm dề, / Tri âm như chẳng muốn nghe,/ Qua thu ta lại trở về núi xưa. (NCL dịch).

Bên cạnh câu chuyện trên với cặp câu cùng bài thơ ứng tác, thì thi hào Giả Đảo còn có vài ba bài thơ khá nổi tiếng khác được nhiều thế hệ truyền tụng đến thuộc lòng. Chẳng hạn như bài Độ Tang Càn 渡桑乾  (Qua sông Tang Càn):

客捨并州已十霜,歸心日夜憶咸陽.
無端更渡桑乾水,卻望并州是故鄉.

Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương, Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương.
Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ, Khước vọng Tinh Châu thị cố hương.

Dịch nghĩa: Làm khách trọ ở Tinh Châu đã mười sương (tức 10 năm), / Lòng muốn về quê nhà, ngày đêm nhớ mong Hàm Dương. / Bỗng dưng có dịp đi thuyền qua dòng Tang Càn, / Chợt ngoảnh lại nhìn về Tinh Châu, ngỡ đó chính là quê cũ của mình.

Dịch thơ: Khách ngụ Tinh Châu đã chục sương, Ngày đêm mong nhớ đất Hàm Dương.
Bỗng dưng có dịp qua Tang thủy, Ngoảnh lại Tinh Châu ngỡ cố hương. (NCL dịch).

Bài thơ ghi lại tâm trạng, nỗi niềm của lữ khách, thân xác thì ở chỗ này mà hồn lại nhớ về nơi khác, mà nơi đó là quê hương, là nơi chôn nhau cắt rún của mình. Để rồi khi có dịp về lại quê hương thì bất chợt nhìn lại nơi mình trú ngụ trước đây, cứ ngỡ nơi đó mới chính là quê hương cũ của mình. Từ ý và tứ của bài thơ này, nhà thơ Chế Lan Viên khi viết bài thơ Tiếng hát con tàu (1960), trong đó có hai câu đầy suy tư mang tính triết lý “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, / Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn” có lẽ là xuất phát từ ý tưởng của bài Độ Tang Càn của thi hào Giả Đảo chăng?

PGS.TS. Nguyễn Công Lý
GVCC Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM


  1. Gọi như vậy vì các thi sĩ thuộc phái này thường ngâm thơ suốt đêm, mong tìm được một tiếng lạ lùng hoặc hạ một vần khó khăn. Giả Đảo có bài thơ “Tuyệt cú” bộc lộ sự “khổ ngâm” này. Dịch Quân Tả cho biết: Giả Đảo thường khổ ngâm có khi nhập thần. Giá như có “Bạch khởi dí kiếm trước mặt, Tô Tần khua lưỡi sau lưng” ông cũng không hay biết. (Văn học sử Trung Quốc, Tập I, tr. 476). Ở Việt Nam, Nguyễn Hiến Lê trong Đại cương Văn học sử Trung Quốc tr. 456, đã xếp ông vào trường phái thơ Quái đản. Trần Trọng San trong công trình tuyển dịch Thơ Đường của Trần Trọng San cũng xếp ông vào phái Quái đản. Sở dĩ dùng từ “quái đản” để gọi phái này, vì họ chủ trương viết sao phải cho khác người, làm cho người kinh dị thì mới khéo và lòng họ mới yên (ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu).
  2. Nhiều tài liệu ở nước ta như công trình của Nguyễn Hiến Lê, của Trần Trọng San ghi ông thi đỗ Tiến sĩ là không chinh xác.
  3. Hàn Dũ (768-724) tự Thoái Chi, người Hà Nam, đỗ Tiến sĩ, làm quan dưới đời vua Đường Hiến Tông (806-820) đến chức Tế tửu Quốc Tử Giám, Binh bộ Thị lang, rồi Lại bộ Thị lang (Thị lang là chức quan tương đương với chức Thứ trưởng của một Bộ hiện nay; chức Tế tửu Quốc Tử Giám là chức quan trông coi việc học và giảng dạy trường học ở kinh đô, tương đương với chức Viện trưởng Viện Đại học ở miền Nam trước đây hay chức Giám đốc Đại học Quốc gia hiện nay). Người đời sau tôn vinh Hàn Dũ là một trong tám nhà nổi tiếng đại diện cho thơ đời Đường, đời Tống (Đường Tống bát đại gia) gồm: đời Đường có Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên; đời Tống có Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Tăng Củng, Vương An Thạch.
  4. Tức hai câu thơ ông ứng tác trên đường đi tại kinh đô Trường An: Điểu túc trì biên thụ, / Tăng thôi (xao) nguyệt hạ môn.