Thứ Bảy, 29 Tháng Một 2022
Phật học Nghiên cứu Bước đầu tìm hiểu những đóng góp của Ni giới Nam Bộ...

Bước đầu tìm hiểu những đóng góp của Ni giới Nam Bộ trên lĩnh vực báo chí (1930 – 1975)

  Báo chí là cơ quan ngôn luận tuyên truyền giúp cho những ý kiến của người viết lan tỏa sâu và rộng trong cộng đồng. Như vậy, báo chí Phật giáo giúp phổ biến những nhận định, quan điểm, chủ trương của nhóm biên tập đưa ra cho Phật giáo, để cùng nhau nắm bắt được những thông tin cơ bản và mới về tôn giáo mình.

Báo chí Phật giáo là khái niệm chỉ chung cho các hình thức báo Phật giáo xuất bản dưới nhiều dạng thức khác nhau, như báo ra hàng ngày (Nhật báo); báo ra hàng tuần (Tuần báo); ra nửa tháng một kỳ (bán Nguyệt san); ra hàng tháng (Nguyệt san)…

Trước và sau năm 1975, ở Nam Bộ, có nhiều báo chí Phật giáo được phát hành, có những tờ báo, Nguyệt san phổ biến trong giới Phật giáo, đồng thời cũng có những Đặc san riêng cho từng hội Phật giáo, của từng Hệ phái Phật giáo, đặc biệt là giai đoạn 1964 – 1975, tức sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và giai đoạn từ năm 1981 đến nay, tức sau khi có Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời. Chính vì vậy, trong tham luận này, chúng tôi giới hạn chỉ đề cập đến những báo chí Phật giáo được xuất bản ở Nam Bộ trước năm 1975 (giai đoạn 1930 – 1975) và cũng chỉ đề cập đến những đóng góp của Ni giới. Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian này vì từ năm 1930 mới bắt đầu có các Hội Phật giáo ở Nam Kỳ ra đời và sau năm 1975, với sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, lịch sử Phật giáo ở miền Nam cũng đã qua một giai đoạn mới.

Mặt khác, do bối cảnh của Nam Kỳ vào nửa đầu thế kỷ XX, Phật giáo bắt đầu có cuộc chấn hưng lớn, khởi xuất tại Nam Kỳ, sau đó lan rộng đến Trung Kỳ và Bắc Kỳ, nên đã mở ra một chân trời mới cho nữ giới Phật giáo. Bối cảnh văn hóa – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX vẫn còn chịu ảnh hưởng của chế độ phong kiến, nên ít nhiều cũng dẫn đến sự đóng góp hạn chế của nữ giới Phật giáo vào xã hội.

Bài viết bước đầu nêu lên đóng góp của một số chư Ni tiêu biểu có tham gia viết báo và đồng thời phân tích những nội dung mà Ni giới Phật giáo ở Nam Kỳ đã nêu lên, giúp làm rõ quá trình hoạt động Phật sự của Ni giới trên lĩnh vực báo chí thời cận hiện đại (1930 – 1975).

1. Báo chí Phật giáo Nam Bộ giai đoạn 1930 – 1975

“Đề cập đến báo chí Phật giáo, các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí đều lấy mốc thời gian những năm 1930 – 1945 làm khởi điểm và giai đoạn này báo chí gắn liền với phong trào chấn hưng Phật giáo vì giáo lý Đức Phật được những nhà nghiên cứu quan tâm tranh luận trên diễn đàn ngôn luận rất sôi nổi”1.

Trong việc truyền tải những ý tưởng, thông điệp của Phật giáo, báo chí Phật giáo đã thực hiện sứ mệnh lịch sử, trở thành bàn đạp góp phần đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ những năm đầu thế kỷ XX thông qua việc quảng bá sâu rộng tư tưởng, giáo lý Phật giáo đến mọi tầng lớp trong xã hội. Lịch sử đã cho thấy, báo chí Phật giáo chính là cơ quan thông tin, truyền thông, hoằng pháp hữu hiệu, có vai trò then chốt trong việc đưa giáo lý Phật giáo vào đời sống của Tăng Ni, Phật tử. Ngoài việc truyền tải thông tin – sự kiện liên quan đến Phật giáo, báo chí còn là một kênh quan trọng truyền bá thông điệp của Phật giáo đến Tăng Ni, Phật tử, nhất là trong giai đoạn chấn hưng, báo chí Phật giáo đã góp phần đáng kể vào việc đưa ra những mục tiêu quan trọng của phong trào chấn hưng Phật giáo, đó chính là thực hành cho được ba việc lớn: Chỉnh đốn Tăng già; kiến lập Phật học đường và dịch kinh sách chữ Hán ra chữ Quốc ngữ.

Thời gian sau đó, khi Phật giáo ở Nam Bộ đã có tổ chức Giáo hội sau Đại hội thống nhất Phật giáo vào năm 1964, báo chí Phật giáo được xuất bản nhiều hơn so với giai đoạn trước.
Bên cạnh đó, cần nhận thức rõ vai trò của báo chí, đặc biệt là báo in, “bởi đó chính là một kênh hoằng pháp hiệu quả, vì những tư liệu lưu giữ trên báo in sẽ còn ý nghĩa cho nhiều thế hệ tương lai”2.

Khi công cuộc phục hưng Phật giáo được hình thành với sự thành lập các hội Phật giáo, các Tạp chí Phật học được ra đời. Mỗi hội Phật giáo đều có Tạp chí xuất bản. Ở Nam Kỳ lúc ấy, có Tạp chí Từ Bi Âm của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học xuất bản đầu năm 1932; Tạp chí Duy Tâm Phật học của Hội Lưỡng Xuyên Phật học xuất bản tại Trà Vinh năm 1935; Tạp chí Pháp Âm của Hội Tịnh Độ Cư sĩ và Tạp chí Phật Hóa Tân Thanh Niên xuất bản năm 1937; Tạp chí Tiến Hóa của Hội Phật học Kiêm Tế xuất bản ở Rạch Giá năm 1938; báo Tinh Tấn (1947) của Hội Phật giáo Cứu Quốc Nam Bộ; Tạp chí Liên Hoa (1949) của Hội Liên Hoa Phật học; Tập san Tự Giác (1952) do Nam Việt Lục Hòa Tăng xuất bản; Tạp chí Tịnh Độ Cư sĩ (1955) của Hội Tịnh Độ tông Việt Nam; Nguyệt san Phật giáo Việt Nam (1956), là cơ quan ngôn luận của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam; Tạp chí Từ Quang (1958) do Hội Phật học Nam Việt xuất bản; Tập san Sen Hái Đầu Mùa (1960) do Ban Liên lạc Văn hóa của Đoàn Thanh niên Tăng Ni Việt Nam; Nguyệt san Đại Tòng Lâm (1963) do GHPGVNTN chủ trương; Hải Triều Âm (1964) do Viện Hóa Đạo (GHPGVNTN) chủ trương, một năm sau (1965) đổi tên thành Chánh Đạo; Tuần báo Đuốc Tuệ (1964) do Phật giáo Miền Vĩnh Nghiêm phát hành; Tuần báo Thiện Mỹ (1964) do TT. Nhất Hạnh chủ trương; báo Đất Tổ (1965), Giữ Thơm Quê Mẹ (1965) do nhà sách Lá Bối xuất bản; Nguyệt san Vạn Hạnh (1966) do Trường Đại học Vạn Hạnh xuất bản; bán Nguyệt san An Lạc (1966) là tiếng nói của giới Tăng sinh do Nguyễn Bỉnh Tuyên làm chủ bút; bán Nguyệt san Đại Từ Bi (1967) của Tuyên Úy Phật giáo thuộc GHPGVNTN; Tạp chí Tư Tưởng (1968) do Viện Đại học Vạn Hạnh chủ trương; Báo Tin Tưởng (1968) do sinh viên Phật tử chủ trương; Nội san Tin Phật (1969) của Tổng vụ Hoằng Pháp GHPGVNTN, khi ra số 2 đổi tên là Hóa Đạo; Nhật báo Gió Nam (1971) của GHPGVNTN; Tạp chí Bát Nhã (1972) do Tổng vụ Tài chính – Kiến thiết của GHPGVNTN phát hành; Báo Hoằng Pháp (1972) do Tổng vụ Hoằng Pháp GHPGVNTN xuất bản; tam Nguyệt san Hải Triều Âm (1973) do Tổng vụ Văn hóa của GHPGVNTN chủ trương; Nội san Thuyền Sen (1973) của Ni giới Khất sĩ; Tạp chí Hoa Đàm (1973) do Ni bộ Bắc tông xuất bản, Sư trưởng Như Thanh là chủ nhiệm kiêm chủ bút; Đặc san Hoằng Pháp (1974) do Thích Huyền Vi làm chủ nhiệm3.

2. Chư Ni tiêu biểu tham gia viết báo

Có thể kể đến con số rất hiếm hoi chư Ni tham gia viết báo trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 1975, tức gần nửa thế kỷ. Vị Ni được xem là người đầu tiên tham gia trên lĩnh vực báo chí là Sư bà Diệu Tịnh (1910 – 1942); sau đó có Sư trưởng Như Thanh (1911 – 1999) và Ni trưởng Trí Hải (1938 – 2003)…

2.1. Sư bà Diệu Tịnh

Sư bà Diệu Tịnh tên là Phạm Đại Thọ, người Gò Công, thuộc dòng dõi Phạm Đăng, năm 15 tuổi đã vào chùa tu học, 18 tuổi theo học trường Ni Giác Hoa ở Bạc Liêu, tại đây đã cầu pháp với HT. Như Hiển Chí Thiền, được đặt pháp danh là Hồng Thọ, hiệu Diệu Tịnh. Sư bà thọ giới Tỳ Kheo Ni vào năm 1930. Trong một trường hương tại chùa Giác Hoàng ở Bà Điểm, Sư bà được mời làm Chánh-na và sau đó được công nhận là Giáo thọ Ni đầu tiên của Gia Định4.

Sư bà Diệu Tịnh là 1 trong 3 vị Ni (Diệu Tịnh, Diệu Tấn, Diệu Tánh) đã đứng ra xây dựng ngôi chùa Ni đầu tiên trên đất Gia Định là chùa Từ Hóa, sau đổi tên là Hải Ấn Ni Tự. Trong suốt 33 năm trụ thế, ra làm Phật sự trong 19 năm, Sư bà một lòng chăm lo cho Ni giới. Ngay từ lúc 17 tuổi, Ni cô Diệu Tịnh đã dịch kinh và đã dành dụm tiền có được để in kinh, như kinh Phổ Môn, Vu Lan, Pháp Bảo Đàn. Sư bà tâm sự: “Trong mỗi kinh ấy, phía sau tôi đều có viết một bài để khuyến khích các Ni cô, vì tôi thấy phụ nữ đi tu vô chùa chỉ lo nấu cơm, xách nước, quét nhà (…) không ai quan tâm đến sự học”5.

“Năm 1933, Sư bà viết bài đăng Tạp chí Từ Bi Âm và tất cả các bài đăng về sau đều có mục đích kêu gọi chấn hưng Phật giáo”6.

Như đã biết, Từ Bi Âm là Tạp chí Phật giáo, là cơ quan ngôn luận của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học, một hội Phật học đầu tiên của cả nước trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, giai đoạn đầu tham gia, Sư bà đã thổ lộ trong bài tự truyện của mình rằng: “Một tiếng chuông sắp bể ra đời vừa viết bài đăng trên Tạp chí Từ Bi Âm số 27, cũng chẳng thấy hưởng ứng”.7

Bài viết Lời than phiền của một cô Vãi trên Từ Bi Âm số 27 năm 1933 có đoạn: “Phật giáo là đạo vô thượng mà người học đạo lại hành vi lắm điều không được thích hợp, thì có khác nào như sữa tô lạc có vị rất ngon mà lại bị côn trùng sa vào nên hóa ra thành thuốc độc”8.

Sau bài viết Lời than phiền của một cô Vãi trên Từ Bi Âm, Sư bà tiếp tục đăng tải các bài khác như “Cái án ngụy truyền Chánh pháp”, Từ Bi Âm số 73 năm 1935, trong đó có đoạn: “Bởi có học mới biết lý mầu nhiệm, bởi biết lý mầu mới biết đường tu, bởi biết đường tu mới có chứng, có nhập. Xưa nay, những người không học mà cũng tu chắc là không nhằm gì, huống gì nói đến sự thành Phật”9.

Tiếp tục với bài báo kêu gọi chị em nữ lưu đối với Phật giáo ngày nay, Từ Bi Âm số 79 năm 1935, Sư bà đi đến việc kêu gọi cần thiết nên tổ chức trường Phật học để giáo dục phụ nữ.
Năm 1936, cũng trên Từ Bi Âm, trong diễn văn đọc vào ngày Rằm tháng Bảy tại chùa Hải Ấn, Sư bà kêu gọi: “Nay Ni tự này thành lập, đã có cơ sở cho Ni giới, người nào phát tâm tu hành mà sợ thị phi, xin ở cùng chúng tôi mà tu học, để tránh ám muội, bước lên con đường chánh đại quang minh”10.

Trong ngày Đại hội của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học vào năm 1935, Sư bà Diệu Tịnh đã kêu gọi: “Chị em trong xã hội này, nào tín nữ, nào Ni giới phải tề tâm nhất trí mà lo sự trùng hưng Phật giáo nước nhà thì lợi ích biết bao”11.

Bài viết “Nên tổ chức trường Phật học để giáo dục phụ nữ không?”, đã được đưa vào Từ Bi Âm số 148 năm 1938, trong đó, với lời lẽ thể hiện sự cần thiết phải có một tổ chức để giáo dục Ni giới. Sư bà cho rằng: “Chúng tôi mong sao thời kỳ phôi thai này mà dần dần lập nên được đoàn thể Ni giới cho trang hoàng, hầu một ngày kia nhờ ánh sáng chân chính ấy đánh tan những lối mờ ám bất bình, tạo thành một thế giới nam nữ bình đẳng của Phật giáo thì chẳng có gì quý bằng”12.

Ngoài văn xuôi, Sư bà cũng tham gia vào mục thơ của Từ Bi Âm, như bài “Mừng Từ Bi Âm” và “Lời tự thuật” trên Từ Bi Âm số 73 năm 1935.

Theo Ni trưởng TN. Như Đức, hiện đang Trụ trì tại Thiền viện Viên Chiếu (Đồng Nai), việc bắt đầu viết báo vào năm 1933 của Sư bà Diệu Tịnh nhằm “kêu gọi tổ chức Ni giới thành một đoàn thể hữu ích, phục vụ Chánh pháp đúng theo nghĩa “con gái dòng họ Thích”, việc làm của Sư bà được xem như đi trước thời gian, vì tình hình Ni chúng lúc ấy chưa phát triển”13.

Trong bài thơ cổ vũ phong trào chấn hưng Phật giáo của Sư bà Diệu Tịnh, đăng trên Từ Bi Âm số 73 có đoạn: “Trống pháp rền nghe đã khắp xa/ Kêu người sớm tỉnh giấc Nam Kha/ Lý mầu vẹn tỏ màn vân nguyệt/ Lời đẹp thêu nên vẻ gấm hoa”14.

Tiếp tục với xu thế tham gia báo chí, dùng báo chí làm nơi tuyên truyền Phật giáo hữu hiệu, vị nữ tu sĩ đã đóng góp lớn cho báo chí nói chung và sự phục hưng của Phật giáo ở Nam Bộ nói riêng, chính là Sư trưởng Như Thanh.

2.2. Sư trưởng Như Thanh

Sư trưởng có tên là Hồng Ẩn_Diệu Tánh, hiệu Như Thanh, là một trong ba vị Ni tiền bối Sài Gòn – Gia Định gồm: Sư bà Hồng Thọ_Diệu Tịnh; Sư bà Hồng Lầu_Diệu Tấn và Sư bà Hồng Ẩn_Diệu Tánh. Vào năm 1956, theo sự chỉ đạo của HT. Huệ Quang, Pháp chủ đầu tiên của Tăng già Nam Việt, Sư trưởng Như Thanh làm Trưởng ban Quản trị Ni bộ lâm thời, để phát khởi cuộc vận động Ni chúng miền Nam, tiến đến Đại hội thành lập Ni bộ Nam Việt vào năm 1956. Chính sự ra đời của một tổ chức Ni đầu tiên ở Nam Bộ, do Ni giới đứng ra tổ chức, đã cho thấy được sự lớn mạnh về nhận thức trong việc hoằng pháp của Ni giới ở Nam Bộ và cũng thể hiện rõ những quyết tâm của nữ giới Phật giáo trong việc xây dựng tổ chức, đã biết dùng sức mạnh của tổ chức để xây dựng đội ngũ Ni giới lớn mạnh. Đây cũng là những yếu tố quan trọng giúp hình thành Tạp chí Hoa Đàm vào năm 1973, là cơ quan ngôn luận, tiếng nói chung của Nữ giới Phật giáo Việt Nam, cũng như của Nam Bộ nói riêng. Số cuối cùng của Hoa Đàm ra mắt độc giả là vào tháng Giêng năm 1975. Tuy là cơ quan ngôn luận của Ni bộ Bắc tông, mà tiền thân của tổ chức này là Ni bộ Nam Việt, Hoa Đàm được thành lập khá muộn sau này, nhưng phải thừa nhận rằng, từ ý tưởng, nhận thức và tổ chức, đến việc phát hành Đặc san này, công lao đóng góp có tính quyết định, chính là từ Sư trưởng Như Thanh – Chủ nhiệm kiêm Chủ bút.

2.3. Ni trưởng Trí Hải

Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải, có tên đời là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, là một vị Ni có khả năng trên nhiều lĩnh vực, nhưng Ni trưởng Trí Hải được biết và nhắc đến nhiều nhất chính là trên lĩnh vực dịch thuật, nổi tiếng với tác phẩm Việt dịch Câu chuyện của dòng sông15 của Hermann Hesse. Ngay từ số 1 của Tạp chí Tư Tưởng do Đại học Vạn Hạnh phát hành, Ni trưởng đã đăng bài dịch Trung quán Long Thọ và lập trường Trung Quán. Ni trưởng cũng đã xuất bản các loại sách về giáo lý, triết lý do Ni trưởng sáng tác hay dịch thuật. Người ra đi khi còn khá trẻ, nhưng đã lưu lại một sự nghiệp trước tác lớn đến ngạc nhiên với 66 công trình, gồm: Dịch thuật, Biên soạn và Phóng tác16. Khi Đặc san Hoa Đàm được phát hành vào năm 1973, Ni trưởng Trí Hải là Tổng Thư ký.

Báo chí Phật giáo xuất hiện đầu tiên ở Nam Kỳ là tờ Pháp Âm vào năm 1929. Đó là giai đoạn khởi đầu cho phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ. Với chức năng của báo chí là cơ quan ngôn luận, tuyên truyền hữu hiệu. Vì vậy, ngay khi thành lập hội Phật giáo, các hội đều nhanh chóng tiến hành cho xuất bản Báo, Tạp chí, Nguyệt san, hoặc bán Nguyệt san… để góp phần tăng cường cho hoạt động hội.

Có thể nhận thấy, trong khoảng thời gian 45 năm, từ năm 1930 đến năm 1975, báo chí Phật giáo ở Nam Bộ xuất hiện ngày càng nhiều, với nhiều thể loại khác nhau, thời gian tồn tại khác nhau. Sài Gòn – Gia Định là trung tâm Phật giáo quan trọng của vùng đất Nam Bộ, nên trong giai đoạn có phong trào chấn hưng Phật giáo, tuy báo chí Phật giáo chưa được phong phú bằng những giai đoạn sau này, nhưng các Tạp chí như Từ Bi Âm, Duy Tâm Phật học, Tiến Hóa… là những tờ báo gây được tiếng vang và hoạt động trong thời gian khá dài. Trong bối cảnh xã hội Nam Kỳ đầu thế kỷ XX, nơi thực dân Pháp trực tiếp chiếm đóng, tờ báo đầu tiên của một hội Phật học đầu tiên ra đời đã có sự đóng góp của Ni giới. Tuy số lượng chư Ni tham gia báo chí rất ít ỏi, nhưng đã cho thấy rõ nhận thức của chư Ni ở Nam Kỳ giai đoạn này đã hòa vào, hưởng ứng công cuộc chấn hưng Phật giáo.

Bài viết của Sư bà Diệu Tịnh trên Từ Bi Âm có lời lẽ sắc bén, mang tính quyết định và đã thể hiện được những nhận định sâu sắc về cuộc sống đạo của người nữ tu sĩ, về bối cảnh xã hội đương thời. Tuần tự các tiêu đề bài viết của Ni cô Diệu Tịnh trên Từ Bi Âm qua các số báo đã thể hiện điều đó. Sư bà đã đi từ việc trình bày thực trạng sống tu của chư Ni trong các chùa: “trong nhiều chùa, Tăng Ni sinh hoạt chung với nhau, đã xảy ra lắm điều tệ hại… ”, để đi đến việc cần thiết nên thành lập Ni tự, lập trường đào tạo Ni giới, đó cũng chính là mục tiêu của phong trào chấn hưng Phật giáo: làm thế nào tiến hành cho được 3 cuộc “cách mạng” về giáo lý, giáo chế và giáo sản.

Pháp Âm, Từ Bi Âm, Duy Tâm Phật học ở Nam Kỳ được tín đồ nhiệt liệt hưởng ứng, nên lớn mạnh và phát triển rất nhanh. Không lâu sau, mỗi tỉnh trong nước đều có chi nhánh của các hội Phật giáo. Chính nhờ sự hưởng ứng này mà các hội đã xây dựng thêm cơ sở, mở mang thêm nhiều Phật Học viện, xuất bản thêm nhiều kinh sách và báo chí, thúc đẩy việc chấn hưng nền Phật học nước nhà. Tuy nhiên, cần thấy rõ rằng, sự đóng góp của Ni giới và nữ Phật tử tham gia viết báo cũng còn rất hạn chế. Tất nhiên, ngoài yếu tố nội tại do năng lực viết báo từng cá nhân còn khá hạn chế, thì cũng cần thấy được những “rào cản” đưa đến sự đóng góp khá hiếm hoi của chư Ni lúc bấy giờ, đó là tính cách rụt rè của phụ nữ, tính cách e ngại phát biểu trước công chúng… Và như vậy, sự xuất hiện của một vài cây bút là chư Ni trên báo chí thời bấy giờ lại càng đáng được trân quý, vì tinh thần dũng cảm, dám xông pha vì chính nghĩa, thể hiện tinh thần đại hùng, đại lực… của các vị Ni này.

Một ngôi sao sáng được ban tặng là ngôi sao Bắc đẩu trên bầu trời Ni giới Phật giáo ở Nam Bộ: Sư trưởng Như Thanh. Không phải ngẫu nhiên mà danh hiệu “Sư trưởng” là danh hiệu duy nhất từ trước đến nay lại dành tặng cho Tỳ Kheo Ni Như Thanh. Trên lĩnh vực báo chí Phật giáo, Sư trưởng Như Thanh không chỉ tham gia viết báo, mà còn tham gia “làm báo”. Với cương vị là Tổng Biên tập Hoa Đàm, Đặc san đầu tiên thể hiện tiếng nói của Nữ giới Phật giáo cả nước, Tổng Biên tập Sư trưởng Như Thanh đã biết sử dụng thế mạnh của báo chí để làm lợi lạc cho nữ giới Phật giáo, góp phần đáng kể vào sự nghiệp đào tạo nữ giới Phật giáo trên đường tu tập và hành trì Chánh pháp của Như Lai.

Như vậy, cần thừa nhận rằng, báo chí Phật giáo Nam Bộ giai đoạn 1930 – 1975 đã đem lại sự tranh luận sôi nổi xoay quanh các chủ đề mang nhận thức mới, thể hiện nhiều khuynh hướng khác nhau. Mặt khác, do tình hình Sài Gòn – Gia Định lúc bấy giờ còn chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề sự thống trị của thực dân Pháp, chính quyền đương thời, nên hầu hết báo chí Phật giáo có tuổi thọ không cao, có báo ra được một vài số thì bị đình bản17.

Trong khoảng thời gian 45 năm này, báo chí Phật giáo ở Nam Bộ còn cho thấy rõ tính đa dạng của thiết chế Phật giáo tại đây. Có lẽ chưa nơi nào trong cả nước và chưa có giai đoạn nào trong lịch sử Phật giáo Việt Nam lại phức tạp hơn giai đoạn này. Chính vì đó là thời kỳ đất nước bị chia cắt, ngoại xâm chiếm đóng, Phật giáo bị các thế lực thù địch lợi dụng để hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng, vì vậy, từng hệ phái, từng giáo phái đều có tờ báo riêng của tổ chức mình. Trong tình trạng hỗn loạn ấy, sự đóng góp khá khiêm tốn của chư Ni ở Nam Bộ trên diễn đàn của báo chí Phật giáo cũng là điều dễ hiểu.

Chính vì vậy, sau năm 1975, đất nước được hòa bình, thống nhất, đặc biệt là sau năm 1981, với sự hình thành một tổ chức Phật giáo duy nhất trong cả nước là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử có nhiều điều kiện và môi trường thuận lợi để thể hiện suy nghĩ và hoạt động Phật sự thông qua báo chí. Đồng thời, cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ, báo chí Phật giáo có thuận lợi hơn để hình thành nhiều dạng thông tin khác nhau, như thông qua báo in, báo điện tử online… Từ đó, nữ giới Phật giáo Nam Bộ, không chỉ có đóng góp thông qua việc tham gia bài viết, mà còn chủ động, tích cực hơn, là đã tái lập lại Đặc san Hoa Đàm, vốn được Sư trưởng Như Thanh tổ chức thực hiện từ năm 1973. Vì vậy, gần 10 năm qua, tiếng nói của nữ giới Phật giáo trên Đặc san Hoa Đàm đã trở thành tiếng nói chung của nữ giới Phật giáo trong cả nước và của cả chư Ni, Phật tử người Việt ở một số nước trên thế giới.

Bài viết này nêu lên sự đóng góp khá hiếm hoi nhưng đáng trân quý của một số chư Ni ở Nam Bộ trên lĩnh vực báo chí giai đoạn 1930 – 1975, với mong muốn sẽ giúp cho các nghiên cứu mới khác, được tiếp cận từ góc nhìn so sánh với các hoạt động tham gia báo chí của Ni giới giai đoạn trước đây, từ đó sẽ càng giúp nhận thức được rõ ràng, đầy đủ hơn về quá trình phát triển và lớn mạnh của Ni giới Phật giáo Nam Bộ đương đại.

PGS. TS. Trần Hồng Liên


  1. Phật tử Việt Nam, Vai trò của báo chí trong phong trào chấn hưng Phật giáo giai đoạn đầu thế kỷ XX, http://www.phattuvietnam.net/vai-tro-cua-bao-chi-trong-phong-trao-chan-hung-phat-giao-dau-the-ky-20/, ngày truy cập 17/9/2020.
  2. TS.NS. Như Nguyệt (2018), Báo chí với sự nghiệp Hoằng Pháp trong thời đại mới, https://vbgh.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=hoi-thao-tai-khanh-hoa-2018/bao-chi-voi-su-ngiep-hoang-phap-trong-thoi-dai-moi-420.html, ngày truy cập 17/9/2018.
  3. Xem thêm: Nguyễn Đại Đồng (2008), Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1920 – 2008), Nxb Tôn giáo; Trần Hồng Liên (1996), Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến 1975, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Như Đức biên soạn (2009), Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam, Nxb Tôn giáo, tr. 37.
  5. Hải Ấn Ni tự (1973), Lược sử Hòa thượng Ni thượng Hồng hạ Thọ, tự Diệu Tịnh, lưu hành nội bộ, tr. 24 – 25.
  6. Như Đức biên soạn (2009), Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam, Nxb Tôn giáo, tr. 37
  7. Hải Ấn Ni tự (1973), Lược sử Hòa thượng Ni thượng Hồng hạ Thọ, tự Diệu Tịnh, lưu hành nội bộ, tr. 25.
  8. Diệu Tịnh (1933), “Lời than phiền của một cô Vãi”, Từ Bi Âm số 27, tr. 18 – 23.
  9. Diệu Tịnh (1935), “Cái án ngụy truyền Chánh pháp” Từ Bi Âm số 73, tr. 29 – 36.
  10. Diệu Tịnh (1936), “Bài Diễn văn đọc bửa Rằm tháng Bảy tại chùa Hải Ấn”, Từ Bi Âm số 114, tr. 41 – 45.
  11. Diệu Tịnh (1935), “Bài diễn văn hôm ngày Đại hội của Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học”, Từ Bi Âm, số 79, tr. 43.
  12. Diệu Tịnh (1935), “Bài diễn văn hôm ngày Đại hội của Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học”, Từ Bi Âm, số 79, tr. 43.
  13. Diệu Tịnh (1935), “Bài diễn văn hôm ngày Đại hội của Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học”, Từ Bi Âm, số 79, tr. 43.
  14. Sđd, tr. 41.
  15. Tác phẩm này có nguyên tác là Siddhartha, Ni sư Trí Hải ghi tên dịch giả là Phùng Khánh và Phùng Thăng, vì dịch chung với em gái là Phùng Thăng.
  16. Theo Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải, http//phapbao.org/ni-truong-thich-nu-tri-hai-1938-2003/, ngày truy cập 07/9/2020.
  17. Trần Hồng Liên (1996), Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến 1975, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 61.

Tin khác

Cùng chuyên mục

error: Nội dung được bảo mật !!