Bức tranh thứ nhất Tìm trâu

309

  Chiều về, từng chiếc lá vàng nhè nhẹ rơi, phải chăng kiếp nhân sinh cũng như thế, từ những chiếc lá non phát triển xanh tươi, dần dần tàn úa và rơi rụng. Đời người cũng trải qua quá trình tương tự, sanh, lão, bệnh, tử. Đây là nỗi niềm mà Thái Tử Tất Đạt Đa trăn trở, cuối cùng Ngài đã vượt thoát cung vàng điện ngọc, xuất gia tầm đạo. Chúng ta đã bao lần giật mình thức tỉnh để tìm và sống với con người chân thật không sanh, không già, không bệnh, không chết. Hãy mạnh dạn đi tìm Bản Lai Diện Mục của mình. Hãy cùng tìm tâm nhé!

LỜI DẪN
“Từ trước đến giờ vốn chẳng mất cần chi phải đuổi tìm, do trái với tánh giác thành xa cách, hướng theo trần lao mà thành khuất lấp. Đối với quê nhà càng xa xa dần, lối tẻ chợt sai lầm, được mất dấy lên, phải quấy đua nhau tranh khởi”.

LỜI BÌNH
Khi một người đến với thế giới Ta Bà này có hai trường hợp một là do nghiệp lực, hai là do hạnh nguyện. Hạnh nguyện là do hóa thân của các vị Bồ tát, hoặc các bậc chân tu muốn hóa độ chúng sanh nên trở lại thế giới Ta Bà. Ở đây chỉ đề cập đến nghiệp lực. Nghiệp lực là do huân tập những việc làm thiện hoặc bất thiện, nên phải tái sanh vào cảnh giới mà mình đã chiêu cảm, đến để hưởng phước báu hoặc trả nghiệp xấu, ác mà mình đã tạo. Ở cõi người có đầy đủ các cung bậc sướng – khổ, tốt – xấu, vui – buồn. Chung quy lại cũng chỉ vì nghiệp lực mà ở đây.

Đã bao lâu chúng ta quen sống một cuộc đời bình thường, tẻ nhạt. Sống chỉ chờ chết, chết rồi tiếp tục tái sanh, cứ loanh quanh, lẩn quẩn trong vòng sanh tử, biết nơi đâu là điểm dừng. Một người suy nghĩ sâu xa sẽ thấu rõ điều này: cuộc sống chỉ quanh quẩn trong công ăn, việc làm. Sáng ăn một chút gì đó, làm việc suốt ngày, chiều về lại ăn rồi lại ngủ, hết ngày này qua tháng nọ. Nếu có sống tích cực hơn cũng chỉ là giúp ích cho xã hội như từ thiện, cứu trợ… Ông, bà, cha, mẹ, anh chị em hay những người xa xưa hơn cũng sống một cuộc đời như vậy và mỗi người đều phải ra đi khi tử thần gọi tên.

Khi có được thân người phải biết quý trọng, nên vượt thoát những cái tầm thường của thế gian, để đi đến con đường hướng thượng. Một tiếng chuông chùa, hình ảnh thoát tục của vị tu sĩ làm tâm tư rúng động, trong tâm thức cứ tuôn trào những suy nghĩ khác thường, có điều gì khiến ta bồi hồi, thổn thức. Phải một lần tìm đến chốn Già lam, thưa hỏi các bậc Minh sư, tìm lại con người chân thật đã bị những thường tình của thế gian như ăn, mặc, ngủ, công danh, sự nghiệp che lấp. Căn lành từ đây được khai nguồn, cánh cửa giải thoát được mở ra.

Bức tranh thứ nhất Tìm Trâu dụ cho hành giả đang trên lộ trình tìm về bản tâm chân thật của mình. Nhưng đã gọi là chân thật sao lại đi tìm?

“Từ trước đến giờ vốn chẳng mất cần chi phải đuổi tìm”.

Dẫu biết tất cả chúng sanh đều có chân tâm, Phật tánh, nhưng do vô minh che lấp nên nguồn chơn không hiển lộ. Xét cho tột cùng thì “Xưa nay đâu có mất săn tìm chi”. Cái mà mình đi tìm chính là cái xưa nay, là bộ mặt thật của mình hay còn gọi là Bản Lai Diện Mục.
Khi học lịch sử Phật giáo, chúng ta đều biết Vô Não thuở xưa là một tên sát nhân, tu theo ngoại đạo. Do tin theo tà thuyết, ông quyết giết chết một ngàn người lấy ngón tay xâu thành chuỗi hạt để được giải thoát. Người ông muốn giết cuối cùng là Đức Thế Tôn. Nhờ lòng từ bi, Đức Phật đã hóa độ con người cực kỳ hung ác, si mê quay về với bản tánh thuần lương, bước theo con đường giác ngộ, sau đó chứng được Thánh quả A la hán. Vô Não hung ác thuở xưa và khi chứng Thánh quả khác nhau như thế nào? Chỉ do “Mê và ngộ chẳng đồng nên mới có sai khác”. Khi mê tạo biết bao việc ác, chôn vùi tánh linh của mình. Đến khi giác ngộ buông bỏ những điều xấu xa, tội lỗi, sống trở về với cái “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”, bản tánh của con người vốn là thiện, lành.

Có những người trước kia đã làm nhiều việc ác, giết người, trộm cướp tài sản, mua bán ma túy rơi vào hố sâu tội lỗi. Họ bị pháp luật trừng trị, có người thì oán hận cuộc đời, tiếp tục rơi vào con đường đen tối. Cũng có những người nhờ vào cửa Phật mà được chuyển hóa, thay đổi, sống một cuộc đời mới tốt đẹp hơn.

Ở các kỳ Phật pháp nhiệm mầu, Ánh sáng Phật pháp, chúng ta đã được nghe những câu chuyện có thật về những con người sau khi gặp được Phật pháp, được quý Thầy, quý Cô giảng dạy, chỉ rõ những lẽ thật ở đời, những chân lý trong cuộc sống. Dần dần thấu hiểu, có được niềm tin, biết ăn chay, Quy Y Tam Bảo, biết đến Chùa thọ bát quan trai, cuối cùng họ cũng đã cải tà quy chánh, sống đời lương thiện. Tất cả chúng ta đều có những bước thăng, trầm, đã làm rất nhiều việc thiện, có đôi khi cũng đã làm những việc không tốt. Điều này mỗi người cần phải tự nhận ra. Ranh giới giữa thiện và ác rất mong manh, chính vì thế, sẽ có những điều mầu nhiệm xảy ra. Quay đầu là bờ, nếu chúng ta muốn thay đổi chính mình, sống trở về với con người thuần lương của mình. Chỉ cần một phút nhìn lại, thấy rõ thân tâm, chúng ta sẽ sống tích cực, tốt đẹp hơn.

Kinh Lăng Nghiêm có dẫn dụ câu chuyện:

Chàng Diễn Nhã Đạt Đa mỗi ngày dùng gương soi mặt. Mỗi lần soi gương, thấy đầu, mặt của mình trong gương rất đẹp và cho đó là mặt thật của mình. Đến khi để gương xuống, không thấy đầu, mặt đâu nữa, liền hốt hoảng chạy la: Tôi mất đầu rồi.

Có đáng chê trách lắm không? Ôm đầu lại bảo mất đầu. Thật si mê biết bao! Chúng ta cũng như thế, giống anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa, sẵn có tâm thanh tịnh, mà bây giờ lại đi tìm tâm, chẳng khác nào ở trong tịnh lại khuấy lên để thành vọng. Rồi từ vọng lại quay về tìm lại cái tịnh, cái chơn. Không biết rằng trong một niệm tròn đầy, khắp cả Tam Thiên, Đại Thiên thế giới. Tất cả những danh từ chân tâm, Phật tánh, Bản Lai Diện Mục gom thâu trong một niệm. Mà niệm đó là gì? Đó chính là “Chân Tâm Vô Niệm”.
Hoặc như:
Thiền sư Đại An đến tham vấn với Tổ sư Bách Trượng, Sư thưa rằng:
– Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?
Thiền sư Bách Trượng bảo:
– Thật là người cưỡi trâu tìm trâu.
Muốn cầu biết Phật thế nào là phải? Phật ở nơi tâm không ở bên ngoài. Tất cả chúng sanh đều có tánh giác hằng hiện hữu, sao không tự do sử dụng, lại hướng ra ngoài tìm cầu làm chi? Người đang đọc từng dòng chữ trên đây có phải là Phật không? Cái gì biết rõ mình đang đọc, đọc từng câu, từng chữ mà không bị lầm qua. Cái biết đó chính là Phật.
Tiếp đây Thiền sư Bách Trượng lại bảo rằng:
Các ngươi muốn cầu làm Phật, chỉ cần không có những tâm điên đảo, vin theo, vọng tưởng, nghĩ ác, cấu dục, chẳng sạch của chúng sanh, tức các ngươi là Phật.

Vậy chúng ta đã tin chắc tâm mình là Phật chưa? Phật thì không có các tâm điên đảo, vin theo, vọng tưởng. Thế còn chúng ta thì sao? Tâm điên đảo duyên theo vọng thức, phải nói là quấy, quấy nói là phải, được, mất, hơn, thua đủ thứ, thật là điên đảo. Lại thêm tâm dính mắc, đụng đâu dính đó. Nói tới danh thì dính vào danh to, chức lớn. Nói tới lợi thì dính vào lợi, gỡ hoài không ra. Rồi đến ngũ dục, lục trần, bát phong. Ôi thôi! Bấy nhiêu đó cũng đủ làm ông Phật bị lu mờ đến nỗi phải cõng Phật trên vai mà đi tìm Phật, khác nào cưỡi trâu lại đi tìm trâu.

Trong kỷ nguyên 4.0 với công nghệ kỹ thuật hiện đại, thực trạng gây nhứt nhối, khó xử cho các bậc Thầy Tổ là đệ tử sử dụng smart phone, Iphone, Ipad. Đối với cái nhìn những bậc đi trước, đây là một sự rò rỉ trong vấn đề tu học. Nếu chăm chăm vào việc sử dụng điện thoại sẽ xao lãng sự tu tập, công phu trì trệ dễ mất mình với những thú vui ở đời. Với một chiếc điện thoại là cả một thế giới đầy màu sắc được hiện bày, nó cuốn hút những tâm hồn còn non dại, nào là game show, phim ảnh, hài kịch, những trang mạng xã hội, nơi mà mọi người chìm đắm trong thế giới ảo. Họ đã quên mất chính mình và quên mất mình đang tồn tại, cuộc sống chỉ gắn liền với chiếc điện thoại. Có những ý kiến phản bác bảo rằng: Trong thời đại này, nếu Tăng, Ni không sử dụng điện thoại sẽ bị lạc hậu, khó hòa nhập với đời. Thử hỏi đi tu là tìm lẽ thật, tìm chân lý hay chỉ để sống hòa nhập, bắt kịp nhịp sống với dòng đời. Vậy “Xuất thế tục gia” ở chỗ nào? Chúng ta chỉ lạc hậu khi không biết rõ chính mình, không biết được con đường liễu sanh thoát tử mới thực sự lạc hậu trong vạn nẻo luân hồi. Còn nếu như nói điện thoại là một phương tiện, hỗ trợ cho việc học với các ứng dụng như: từ điển, sách nói, google tìm kiếm thông tin nhanh. Vậy các bậc Thầy Tổ của chúng ta, hoàn toàn không sử dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại, mà tâm vẫn sáng, trí vẫn soi, vẫn là những bậc thạch trụ cho người người nương theo. Tri thức mà điện thoại mang lại chỉ là hữu sư trí, có một cái mà điện thoại không mang lại đó chính là trí vô sư. Trí này có được do sự tu tập, chuyển hóa những tâm niệm lăng xăng, vọng tưởng, đảo điên. Tu sĩ trẻ, tâm Bồ Đề chưa kiên cố, dễ nhiễm ô, dính mắc trước cảnh duyên, pháp trần. Cần phải khép mình trong oai nghi, giới luật, kiềm thúc tâm mình bằng cách tuân thủ theo thời khóa, nội quy của Thiền viện phải tụng Kinh, tọa thiền, sám hối, công phu công quả nghiêm chỉnh, tự giác. Đó mới chính là việc bổn phận của mình. Chúng ta đang chăn trâu, vẫn còn tìm kiếm cái nhất tinh minh của mình, chớ để duyên trần làm xáo động, nhất là việc sử dụng điện thoại. Cần phải lựa chọn thức ăn để nuôi dưỡng huệ mạng cho chính mình. Nên trau dồi văn, tư, tu thực hành giới, định, tuệ để đi đến con đường giải thoát.

Trong Cư Trần Lạc Đạo Phú, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã dạy:

Vậy mới hay
Bụt ở cong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuẩy bản nên ta tìm Bụt
Đến cốc hay chỉn Bụt là ta.

Vậy mới hay Phật ở trong tâm. Không cần phải lên non cao xuống biển thẳm, tham vấn hay du phương nơi này, nơi nọ. Chẳng bằng ta tự quay về với chính ta tự thuở nào. Bùi Hưu nhân tiếng gọi của Thiền sư Hoàng Bá mà nhận ra cao Tăng, Ni Sơ Tổng Trì ngửi mùi hoa mai nở mà trở về với bản tâm thanh tịnh của mình. Vậy ông Phật của chúng ta ở đâu?
Tại sao lại phải tìm kiếm?

Do vô minh, bất giác khởi vọng động, che mờ chân tánh thành ra mới đi tìm. Đến khi hết lăng xăng, vọng động thì thể tánh chân thật đều hiện bày, Phật tâm sáng ngời, không cần phải tìm kiếm đâu nữa.

Xét tột nguyên nhân sâu sa của việc tìm kiếm trâu là gì? Đó là:

“Do trái với tánh giác thành xa cách, hướng theo trần lao mà thành khuất lấp. Đối với quê nhà càng xa xa dần, lối tẻ chợt sai lầm, được mất dấy lên, phải quấy đua nhau tranh khởi”.
Chúng sanh thật điên đảo, si mê. Cái chân thật, hằng hữu không nhận lấy, mà nhận lấy những thứ hư vọng, giả dối làm mình.

Thông thường khi nhìn một đóa hoa nếu dừng lại ở cái thấy, biết ban sơ, nhìn chỉ là nhìn, đừng thêm bớt gì cả, thì trâu vẫn còn đó, có mất bao giờ. Bằng ngược lại, khi nhìn thêm vào vô số vọng tưởng, phân biệt, so sánh, hoa này đẹp, hoa kia xấu, màu sắc gì, mùi có thơm không là đã mất trâu, đã trái với tánh giác của mình rồi.

Hay khi nghe một lời trái tai, nghịch ý chúng ta có biết phản văn, văn tự tánh? Có biết nghe lại tánh nghe của mình không? Hay lại duyên theo âm thanh rồi khởi thêm vô số phiền não, sân si. Qua đó mới thấy sự vi tế của việc tu tập. Sự tu tập không phải ở việc làu thông Kinh Điển, cũng không phải ở việc tụng Kinh, tọa thiền mà nó ở ngay trong cuộc sống hàng ngày, ngay trong công việc, cách ứng xử đã nói lên tất cả. Nếu miệng nói thao thao bất tuyệt, mà khi đụng chuyện lại đỏ mặt, sân si, cũng chưa gọi là thật tu. Tu như vậy chỉ là tu trên văn chương, sách vở. Điều quan trọng là hạnh, giải phải tương ưng, làm gương mẫu cho người noi theo, có như vậy mới làm lợi ích cho Phật pháp, cho nên, chớ có “Khẩu đầu thiền”. Thiền là sống trong thực tại, ngay bây giờ và ở đây, đối cảnh tâm không dính mắc, không vướng kẹt vào bất cứ đâu.

Mặc dù biết tánh giác vốn sẵn có, không thiếu cũng không dư. Nhưng khi đối duyên, xúc cảnh phải khéo giữ gìn, chớ để duyên trần kéo lôi. Bây giờ muốn trở lại quê nhà phải làm thế nào? Người tu lúc nào cũng phải giữ tâm như tròng con mắt, không một chút lơi lỏng, buông lung thì mới được tương ưng. Một người chăn trâu giỏi, khi trâu muốn vào ăn lúa mạ của người liền kéo đầu nó lại, cột dây, xỏ mũi không cho chạy nhảy lung tung. Một người tu giỏi phải biết chăn giữ từng tâm niệm của mình. Khi một vọng niệm khởi lên dù là thiện, ác, phải, quấy, tốt, xấu liền buông bỏ không chạy theo. Cứ như thế suốt một ngày dù đang làm việc, tụng Kinh, tọa thiền cũng không ngoài việc không chạy theo vọng tưởng. Chỉ sống với cái “Biết vọng không theo” thì đường trở về quê nhà ngay trước mắt.

Ngư Quân Dung đến tham vấn với Quốc sư Huệ Trung, ông thưa rằng:
– Thầy ở núi Bạch Nhai trong mười hai giờ tu như thế nào?
Sư gọi một đứa trẻ đến vò đầu bảo tỉnh tỉnh hẳn vậy tỉnh tỉnh, rõ ràng hẳn vậy rõ ràng, về sau chớ bị người gạt.

Vậy Quốc sư Huệ Trung dụng công như thế nào? Chúng ta cứ nghĩ dụng công là phải ngày đêm sáu thời tụng Kinh, tọa Thiền. Đúng là khi tu không thể không tụng Kinh, tọa thiền, nó được xem là phương tiện giúp người được định tâm.Nhưng nếu chỉ xem tụng Kinh, tọa thiền là tu thì chưa thấu suốt được lẽ thật, cũng chỉ tu trên thời khóa, hình tướng. Phải áp dụng công phu triệt để, mọi lúc mọi nơi, dù cho đi, đứng, nằm, ngồi, tụng Kinh, tọa thiền, làm việc, tất cả đều không bị tên giặc vọng tưởng dối gạt, thì việc tu hành rất nhẹ nhàng, thảnh thơi. Câu nói của Quốc sư: “Tỉnh tỉnh hẳn vậy tỉnh tỉnh, rõ ràng hẳn vậy rõ ràng về sau chớ bị người gạt” cũng không nằm ngoài yếu chỉ trong tất cả các thời, luôn tỉnh giác với mọi cảnh duyên pháp trần. Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Rõ ràng thường biết không sai lạc thì tên giặc vọng tưởng đâu có dối gạt được mình.

Sống trong môi trường Đại chúng là nơi để rèn luyện, tu tập. Khi giao tiếp, làm việc chung với nhau, dù ít dù nhiều cũng xảy ra những quan điểm bất đồng dẫn đến chuyện cơm không lành, canh không ngọt. Khi hiểu lầm huynh đệ, không nhận ra vấn đề và hướng giải quyết đây là cơ hội cho ý thức xen vào làm tán loạn tâm ý. Chúng ta thường suy nghĩ theo chiều hướng tiêu cực, nghĩ xấu về người, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ khác, một tràn vọng tưởng kéo dài miên man. Lúc đó quả thật có tỉnh, có bị người dối gạt không? Một sự thật đau lòng là chúng ta thường bị vọng tưởng dối gạt chính bản thân mình. Thử nghiệm lại xem, những sự việc đã trải qua, khi biết được chân tướng, đều không đúng như suy nghĩ của mình, đã bao lần chúng ta thốt lên những lời tiếc nuối: “Phải chi, biết vậy, giá mà”. Chỉ một chút mất mình, thiếu sáng suốt để tâm ý buông lung, mình đã phạm biết bao sai lầm, tội lỗi. Thế nên, khi xảy ra một việc gì, dù trái ý nghịch lòng chớ nên hướng ra ngoài nhìn người, cần xem xét lại chính bản thân mình, tự tháo gỡ những nút thắt trong tâm thì mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp.

Tuy sanh ra trong đời ngũ trược, Đức Thế Tôn đã nhập diệt hơn 2.500 năm, nhưng vẫn còn sót lại chút duyên lành, chúng ta được đi trên con đường giác ngộ, giải thoát. Trong dòng chảy vô thường này, cần phải biết “Tu mau kẻo trễ”. Ngay bây giờ hãy cùng tìm tâm nhé.

LỜI TỤNG
ÂM
Mang mang bát thảo khứ truy tầm
Thủy khoát sơn diêu lộ cánh thâm
Lực tận thần bì vô mích xứ
Đãn văn phong thụ vãn thiền ngâm
NGHĨA
Bôn ba vạch cỏ ruổi rong tìm
Nước rộng non xa lối xa thêm
Đuối sức mệt đừ không chỗ kiếm
Phong chiều riêng chỉ tiếng ve ngâm
LỜI BÌNH
“Bôn ba vạch cỏ ruổi rong tìm”.
Chỉ vì một chút lơi lỏng nên chú trâu hoang đã đi mất. Chú mục đồng giờ đây phải nhọc nhằn, tìm kiếm. Chú lăng xăng, rong ruổi ở những bụi cỏ, cánh đồng, mé nước, ven sông những nơi mà trâu thường hay đi tới. Trông dáng vẻ thật hoảng hốt, lo âu. Bởi đã mất trâu thì làm sao chăn?
“Nước rộng non xa lối xa thêm”.
Biết tìm trâu ở đâu, trong khi không có một chút tin tức, dấu vết, chỉ thấy núi non, cảnh vật mênh mông, bát ngát. Đường phía trước rất dịu vợi, xa xôi.
“Đuối sức mệt đừ không chỗ kiếm”.
Rong ruổi tìm kiếm nhưng không thấy gì, chú mục đồng không còn sức lực, mệt lả người nhưng chẳng thấy trâu đâu.
“Phong chiều riêng chỉ tiếng ve ngâm”.

Trong khung cảnh hoang vu của buổi chiều tà, người đã đuối sức, trâu lại không tìm được, chỉ nghe tiếng ve trên những cây phong. Tâm trạng chú mục đồng rất buồn bã, chơi vơi, lẻ loi giữa trời đất bao la. Lúc này chú rất ăn năn, hối hận vì sự buông lung của mình.
Hình ảnh chú mục đồng đi tìm trâu có quen thuộc với mình không? Từ rất lâu chúng ta đã quen sống trong vọng tưởng, điên đảo. Nay giật mình nhìn lại thấy dường như đã đánh mất cái chân thật vốn có tự thuở nào. Chính vì sự chấn động nơi tâm thức nên mới đi tìm bản tâm của mình. Nhưng tìm bằng cách nào? Cần phải đến các ngôi Già Lam, những chốn tu tập, tham thiền, học đạo, học những giáo lý căn băn, cách sống tỉnh thức lần lần sẽ tìm được chính mình. Nhưng quá trình tìm kiếm cũng thật khó khăn, gian khổ. Bởi lẽ, bao lâu nay chúng ta quen sống trong si mê, tăm tối, nay mới nhận chân được lẽ thật thì không tránh khỏi những bàng hoàng, hoảng hốt. Biết mình mất tâm, giờ đi tìm để sống lại là đã có sự tỉnh giác, tiến bộ so với những chúng sanh đang chìm đắm trong sông mê, biển khổ. Bước đầu tìm tâm thật gian nan, vất vả nhưng chỉ cần kiên tâm, vững chí lần lần cũng trở về nguồn cội, nhận lại bản tâm xưa nay của mình.

Lệ Quang