Bức tranh thứ ba Thấy trâu

266

  Thiên nhiên, vạn vật mang đến cho nhân loại biết bao điều diệu kỳ. Giữa trưa hè nóng nực, oi bức có được làn gió mát, thật dễ chịu, mát mẻ làm sao! Một buổi sáng tinh sương, khi thức dậy ngắm nhìn trời, mây, hoa, lá, lòng thật thanh thản, nhẹ nhàng, những tiếng chim hót líu lo cũng đủ làm ta nở một nụ cười sảng khoái. Hãy sống trọn vẹn với cái tinh khôi mà thiên nhiên ban tặng. Hãy sống với chính mình như thuở nằm nôi, vô tư, hồn nhiên, trong sáng. Khi cơn gió thổi qua, có bao giờ chúng ta tự hỏi: “Em có nghe thấy gió nói gì không”.

Lời dẫn
“Từ tiếng mà được vào, ngay chỗ thấy gặp được nguồn. Cửa sáu căn rõ ràng không sai, trong động dụng rành rành hiển lộ. Vị muối mặn ở trong nước, chất keo xanh ở trong màu. Nhướng chân mày lên chẳng phải là vật gì khác”.

Lời bình
Thoáng vọng đâu đây hình ảnh Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn đệ tử của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, nổi tiếng là người học một hiểu mười. Đến khi bị Sư huynh của mình là Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu chợt hỏi một câu: “Trước khi cha mẹ sanh ra ta là ai?” Không đáp được, Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải bèn đốt hết sách vở đến chỗ di tích của Quốc sư Huệ Trung ẩn cư. Một hôm, nhân cuốc cỏ trên núi, nhặt hòn gạch ném trúng cây tre vang tiếng. Sư chợt tỉnh ngộ. Vậy mới rõ biết:

“Từ tiếng mà được vào, ngay chỗ thấy gặp được nguồn.”

Thông thường chúng ta cứ nghĩ học đạo, tìm chân lý phải là cái gì xa xôi, huyền diệu, ở trên mây, trên trời, nhưng thật ra nó rất gần gũi. Do hướng ngoại tìm cầu nên hầu hết các Thiền Tăng khi đến tham vấn với chư vị Tổ sư đều thưa hỏi: “Thế nào là Phật? Thế nào là Đại Ý Phật pháp? Thế nào là Ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Các Tổ sư hoặc đánh, hoặc hét, hoặc đuổi đi hoặc dùng phương tiện trả lời, ngầm chỉ rằng Phật ngay nơi tâm. Đại ý Phật pháp là cái thấy, biết hiện tiền. Tổ sư từ Ấn Độ sang cốt nhổ sạch cái gốc mê lầm, chỉ bày cho chúng sanh nhận được Tri Kiến Phật sẵn có nơi mình, nào có ý gì khác. Vậy mà học nhân đương thời không lãnh hội được lại hướng ra bên ngoài tìm kiếm, không chịu quay về sống với Tánh Thấy, Tánh Nghe của mình.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có ghi lại rằng:
“Đức Thế Tôn bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông và hỏi A Nan rằng:
– Nay ông có nghe chăng?
A Nan và Đại chúng đều đáp:
– Dạ có nghe.
Khi tiếng chuông hết ngân, Phật lại hỏi:
– Nay ông có nghe chăng?
A Nan và Đại chúng đều đáp:
– Dạ không nghe.
Khi ấy, La Hầu La lại đánh thêm một tiếng chuông nữa, Phật lại hỏi:
– Nay ông có nghe chăng?
A Nan và Đại chúng đều đáp:
– Dạ có nghe.
Phật lại hỏi A Nan:
– Thế nào là ông có nghe và thế nào là ông không nghe.
A Nan và Đại chúng đều bạch Phật rằng:
– Tiếng chuông đánh lên thì gọi là có tiếng, đánh lâu hết tiếng, âm vang không còn thì gọi là không tiếng.
Phật bảo A Nan và Đại chúng:
– Hôm nay, các ông sao nói trái ngược lộn xộn như thế.
A Nan và Đại chúng đều bạch Phật:
– Vì sao Thế Tôn bảo chúng con là nói trái ngược lộn xộn?
Phật bảo:
– Tôi hỏi ông về nghe, thì ông nói là nghe. Hỏi ông về tiếng, thì ông nói là tiếng. Chỉ cái nghe và cái tiếng mà ông trả lời không nhất định, như thế làm sao không gọi là trái ngược lộn xộn. A Nan, tiếng hết không còn âm vang, ông nói rằng không nghe, nếu thật không nghe, thì tánh nghe đã diệt đồng như cây khô, khi tiếng chuông lại đánh lên ông làm sao mà biết tiếng. Biết có, biết không tự là thanh trần hoặc có hoặc không, chớ tánh nghe kia há lại vì ông mà thành có thành không. Nếu tánh nghe cho là thật không thì ai biết là không nghe. Thế nên A Nan, tiếng trong cái nghe tự có sanh diệt, chẳng phải vì ông nghe tiếng sanh tiếng diệt, khiến cho tánh nghe của ông là có hay không. Ông còn điên đảo lầm cho cái tiếng làm cái nghe, thì đâu lạ gì không mê muội cho cái thường làm cái đoạn. Tóm lại, ông không nên nói rời các tướng động tịnh, đóng mở, thông bít, thì cái nghe không có tánh.

Dù có tiếng chuông hay không có thì tánh nghe vẫn hiện hữu. Có tiếng, không tiếng chỉ là một hiện tượng sanh diệt, đoạn thường. Tuy tiếng động, âm thanh lúc có lúc không, nhưng tánh nghe vẫn hằng hữu. Chúng ta hay đồng hóa âm thanh với tánh nghe. Thường bảo rằng có tiếng thì có nghe, tức có tánh nghe. Khi không tiếng thì không nghe, tức tánh nghe bị che lấp. Nghĩ như vậy là vướng kẹt vào âm thanh. Phải biết, dù có tiếng hay không thì ta vẫn luôn biết nghe. Tánh nghe này không bị hạn cuộc nơi âm thanh, tiếng động. Khi có tiếng động, biết mình đang nghe có tiếng động. Khi không có tiếng động, biết mình đang nghe không có tiếng động, rõ ràng thường biết, chứ không phải đợi có tiếng mới có nghe, không tiếng thì không nghe.

Chỗ vào là từ nơi âm thanh, sắc tướng, mùi vị… Chỉ cần khéo biết xoay lại là sẽ tìm được.
Ở Thiền viện, ba giờ khuya là giờ thức chúng. Dù đang trong giấc ngủ, nhưng khi nghe tiếng kẻng liền thức dậy. Vậy tánh nghe có hiện hữu không? Nếu không hiện hữu thì tại sao trong thời gian ngủ, bất chợt có tiếng kẻng liền nghe được? Nếu nói có tiếng mới nghe, không tiếng không nghe, thì cái nghe này ở trong sanh diệt, phụ thuộc vào âm thanh. Còn sống với tánh nghe, thì dù có tiếng hay không tiếng, ta vẫn luôn biết nghe.
“Ngay chỗ thấy gặp được nguồn.”

Thiền sư Linh Vân Chí Cần hoa tâm nở rộ khi nhìn thấy hoa đào nở, đã cảm khái bài kệ rằng:

Âm:

Tam thập niên lai tầm kiếm khách
Kỷ hồi lạc diệp kỷ hồi chi
Tự tòng nhất kiến đào hoa hậu
Trực chí như kim bất cánh nghi.

Nghĩa:

Ba mươi năm tìm trang kiếm khách
Bao phen lá rụng lại đâm chồi
Từ khi nhìn thấy hoa đào nở
Đến nay tin chắc chẳng còn nghi.

Suốt ba mươi năm rong ruổi tìm chân lý, tìm mãi, tìm mãi nhưng chẳng thấy đâu. Mặc cho thời gian thấm thoắt trôi, biết bao phen lá rụng rồi lại đâm chồi, dường như là vô tận mà chẳng có một chút tin tức. Đến khi nhìn thấy hoa đào nở, với tánh thấy chưa từng thiếu vắng bao giờ, nhận chân được Bản Lai Diện Mục của chính mình, để rồi đến nay tin chắc chẳng còn nghi. Đã bao giờ chúng ta nhìn thấy hoa đào nở, nghe tiếng chim hót, gió thổi vi vu chưa? Có từ chỗ đó mà được vào cửa chưa?

Thấy và nghe là hai cửa ngõ đưa người đến gần với đạo. Nhưng phải thấy như thế nào mới khế hợp với bản tâm? Chúng sanh cũng thấy nhưng cái thấy nằm trong điên đảo, dối lầm, thấy sắc mê sắc, kẹt trong hình tướng. Còn người học đạo, khi thấy sắc không đồng hóa mình với nó, cũng không quên mình theo vật. Người thế gian khi thấy một người đẹp liền say mê, yêu thích. Nhưng đối với người biết tu, dù thấy người đẹp cũng không dao động, biết rằng nét đẹp kia cũng bị vô thường chi phối, tiến thêm bước nữa, khi thấy người đẹp, thấy chỉ là thấy, không khởi thêm một vọng tưởng nào nữa, đó là cái thấy sáng suốt, hoàn toàn không bị sắc dục làm mê mờ, là đang làm chủ được mình, đang sống với tánh thấy hằng hiện hữu.

“Cửa sáu căn rõ ràng không sai, trong động dụng rành rành hiển lộ.”

Không phải chỉ riêng từ tiếng mà vào hay từ chỗ thấy gặp được nguồn, mà cả sáu căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tất cả điều hiện bày rõ ràng, là cửa ngõ đưa ta trở về. Trong pháp tu Viên Thông của hai mươi lăm vị Thánh, tôn giả A Na Luật viên thông về nhãn căn, tôn giả Châu Lợi Bàn Đặc Ca viên thông về tị căn, tôn giả Kiều Phạm Ba Đề viên thông về thiệt căn… tất cả đều là cửa ngõ để chứng thành Phật đạo.

Ngài Ngưỡng Sơn hỏi Ngài Trung Ấp:
– Thế nào là nghĩa Phật tánh?
Ngài Trung Ấp bảo rằng:
– Ta nói cho ông nghe một thí dụ: Như nhà có sáu cái cửa, trong đó để một con khỉ kêu chóe chóe.- Con khỉ ngủ thì sao?
Ngài Trung Ấp bước xuống giường thiền nắm đứng Ngài Ngưỡng Sơn nói:
– Chóe chóe ta cùng ông thấy nhau.
Sáu cái cửa dụ cho sáu căn, con khỉ dụ cho ý thức. Nếu con khỉ thức, tức ý thức hoạt động, khi đó sáu căn chính là sáu giặc, mắt sẽ chạy theo sắc dục, tai mê mờ nơi âm thanh, lưỡi đắm chìm trong vị ngon ngọt… Nhưng khi con khỉ đã ngủ, tức ý thức không còn tạo tác mà trở về với cái thấy, biết ban sơ, không so sánh, phân biệt. Sáu căn đã trở về nguồn thì tất cả mọi động dụng đều không ngăn ngại, rành rành hiển lộ. Đó là diệu dụng được phát xuất từ chân tâm thanh tịnh.
“Vị muối mặn ở trong nước, chất keo xanh ở trong màu, nhướng lông mày lên chẳng phải là vật gì khác.”
Nước biển vốn là vị mặn cũng như trong màu sẵn có chất keo, điều đó chỉ ra rằng tánh Phật sẵn có nơi tất cả chúng sanh. Nhưng làm thế nào sống được với tánh Phật để vị mặn, chất keo được hiện bày. Chỉ là đừng thêm bớt bất cứ điều gì, hãy để chúng hiện hữu như cái đang là. Trước khi sóng xô vào bờ, biển rất bình yên, phẳng lặng. Trước khi nói năng, động dụng tâm vẫn như như bất động. Nhìn thấy núi sông vẫn là núi sông, cỏ cây hoa lá, con người cũng lại như thế, thì nước biển vẫn là vị mặn, chất keo vẫn có màu xanh. Cần buông bỏ những vọng tưởng điên đảo, những chấp trước, phân biệt là đã một phen nhướng lông mày lên mới thấy được lẽ thật, chẳng phải là vật gì khác, tự nó là chính nó.

Thái Tử Tất Đạt Đa và Đức Thế Tôn có gì khác biệt? Chỉ là một con người, thế nhưng khi là Thái tử, Ngài đi tìm chân lý, con người thật để thoát khỏi sự trói buộc của sanh, lão, bệnh, tử. Khi đã giác ngộ, Ngài vẫn là chính Ngài, hàng ngày ôm bát khất thực, thọ trai, giáo hóa chúng sanh, sinh hoạt và sống như một người bình thường. Nhưng lúc này, Ngài đã là một người giác ngộ hoàn toàn và luôn sống trong cái thấy, biết trọn vẹn, biết rõ con đường của trầm luân sanh tử, đến đây là kết thúc. Đức Thế Tôn đã khẳng định tất cả chúng sanh đều có cái thấy, biết như Ngài (Tri Kiến Phật), Ngài đã thành Phật và chúng sanh tương lai cũng sẽ thành Phật, đó là lẽ tất yếu. Chúng sanh cũng sống, cũng ăn, mặc, làm việc, ngủ nghỉ nhưng tất cả đều trong mê lầm. Ăn phải ăn ngon mà không biết mình đang ăn. Biết mình đang ăn là biết rõ quá trình của sự ăn uống, ăn chỉ là ăn không đòi hỏi món ăn phải ngon, phải bổ. Khi làm việc lại không tập trung, chỉ nghĩ đến chuyện lời, lỗ, cạnh tranh, chuyện tạp của thế gian cho đến những đam mê vào tài, sắc, danh bấy nhiêu đó cũng khiến cho chúng ta mãi đắm chìm trong khổ lụy. Không có một bậc Giác Ngộ nào đắm nhiễm trong ngũ dục mà được giải thoát. Nhưng cũng không hoàn toàn đổ lỗi cho ngũ dục, lục trần, bởi nó chỉ là duyên, là cái thực trạng gắn liền với cuộc sống. Nó không cám dỗ mình, chỉ do chúng ta không làm chủ bản thân nên mới bị nhiễm ô, dính mắc. Sắc vẫn là sắc, thanh vẫn là thanh tự nó đâu có kéo lôi, mời gọi, chỉ tại mình có tình, có ý nên mới bị kéo lôi. Giờ muốn sống với cái thấy, biết như thật, thì chớ nên đem tâm gá vào trần cảnh, chớ để ý thức xen vào mọi sinh hoạt hàng ngày, thấy nghe hiểu biết chớ nên quá nhanh để rồi phóng tâm khởi phân biệt, so sánh hãy nhìn tất cả bằng đôi mắt ngây thơ, hồn nhiên như một đứa trẻ, chúng ta sẽ tìm lại được chính mình, sẽ sống với cái Chơn, Thiện, Mỹ. Bởi lẽ muối đã có vị mặn, trong màu sẵn có chất xanh, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ cần khéo bảo nhậm cái vốn có là đủ, chớ thêm bớt gì cả.

Đã tìm được trâu, tức nhận ra ông Phật của mình. Khi nhận ra sẽ không hướng ngoại, tìm cầu. Đường trở về quê nhà không còn xa cách nữa. Chỉ cần tiến bước về phía trước là sẽ tới nơi.

Lời tụng
Âm:

Hoàng ly chi thượng nhất thanh thanh
Nhật noãn phong hòa ngạn liễu xanh
Chỉ thử cánh vô hồi tỵ xứ
Sâm sâm đầu giác họa nan thành.

Nghĩa:

Hoàng oanh từng tiếng hót trên cành
Nắng ấm gió hòa bờ liễu xanh
Chỉ thế đâu còn nơi tránh né
Đầu sừng lồ lộ vẽ khôn thành.

Lời bình

“Hoàng anh từng tiếng hót trên cành
Nắng ấm gió hòa bờ liễu xanh.”

Từ những dấu vết ban đầu lần mò cũng đã tìm thấy trâu, phát hiện ra chỗ ở của nó, dù trâu có muốn chạy trốn cũng khó mà thoát được. Lắng nghe từng tiếng chim hoàng anh hót trên cành, hòa cùng những ánh nắng lung linh nơi bờ liễu xanh, tìm đến nơi là đã thấy trâu. Trâu hoang thích đến những nơi có cảnh đẹp, thích nghe âm thanh du dương, ngọt ngào đây chính là nơi chốn mà trâu đang ẩn núp. Chú mục đồng vui mừng khôn xiết, sau những ngày tháng gian truân, khổ nhọc, tìm kiếm, hôm nay đã gặp được y rồi.

“Chỉ thế đâu còn nơi tránh né.”

Đã tìm tới nơi, thấy được trâu rồi, lần này nó không còn đường để chạy trốn, không thể tránh né được, đến đây là chấm dứt sự bôn ba, rong ruổi tìm kiếm.

“Đầu sừng lồ lộ vẽ khôn thành.”

Tuy đã thấy trâu, nhưng vẫn khó nắm bắt được. Do nó đi hoang đã lâu, nên rất cuồng dại, phải nhọc nhằn, vất vả lắm mới bắt được.

Trong cuộc sống tu tập hàng ngày, khi đối duyên xúc cảnh, tất cả mọi âm thanh, cảnh vật đều là chỗ để chúng ta nhận được bản tâm, thấy được bản tánh. Nếu không biết xoay lại chính mình để nhận lại “Kho báu nhà mình” mà chỉ phan duyên, hướng ngoại tìm cầu bên ngoài là đã đánh mất nguồn cội. Đại đạo vốn không xa, nó rất gần gũi, ở bên cạnh ta thôi. Đạo là lẽ thật, sống đúng với lẽ thật là chúng ta đang sống trọn vẹn với đạo. Người mê đem tâm cầu đạo nên càng tìm càng xa, bởi lẽ đạo là để sống, chớ không phải để tìm kiếm. Người tỉnh giác thấy đạo không ngoài tâm, biết rõ nhân nơi trần cảnh mà trở về chân như. Ngay nơi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi đều là chỗ trở về, thảy đều là đạo.

Bức tranh thứ ba thấy trâu, tức đã nhận được ông chủ của mình. Ông chủ vẫn hiện tiền nơi sáu căn (Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và trong sáu trần (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Người tu như đang lội ngược dòng nước, chỉ có tiếp tục bơi mới mong đến được bờ. Nếu một phút giây dừng lại sẽ tan thân, mất mạng giữa dòng. Khi tìm được tâm rồi không được tự mãn, cần phải thuần phục, chuyển hóa nó, nếu dừng lại ở chỗ thấy tâm thì sẽ chết ở nơi biển yên sóng lặng, rất khó đạt được chân giải thoát.

Lệ Quang