Bia ký trên trụ đá tại Sàrnàth

145

  Sàrnàth – nơi Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, nơi Tăng đoàn Phật giáo chính thức hình thành, cũng là trung tâm chính của Chánh Lượng Bộ. Vào thế kỷ II trước Tây lịch, nơi linh địa này có một cộng đồng Tăng lữ đông đảo. Sau sự tàn phá của quân Hồi giáo, “Mãi đến thế kỷ XIX, thời kỳ bóng tối của Sàrnàth mới được khép lại khi những nhà khảo cổ tìm đến khai quật vùng đất này”1. Ghi nhận cuộc khai quật Sàrnàth được thực hiện vào năm 1904, dưới sự lãnh đạo của F.O. Oertel. Hiện phần trên của trụ đá với bốn con sư tử còn nguyên vẹn, được Chính phủ Ấn Độ trưng bày trong Viện Bảo tàng Khảo cổ Lộc Uyển, còn năm khúc gãy khác được tôn trí ngay tại địa điểm khai quật dưới một mái che và bao bọc bởi một hàng rào sắt. Đặc biệt, những biểu tượng tuyệt tác trên trụ đá này lại ẩn chứa một ý nghĩa hết sức to lớn. Đó là lý do mà ngày nay, Ấn Độ lấy bánh xe pháp luân in trên Quốc kỳ và bốn con sư tử làm Quốc huy cho đất nước họ.Sau khi bị quân Hồi tàn phá, bia ký với 11 hàng vốn trình bày bằng ngôn ngữ Magadhi và chữ Brahmi của triều đại Maurya đã được các nhà khảo cổ đối chiếu, công bố nội dung tương đồng với sắc lệnh của vua Asoka ở Kausambi và Sanchi: Cấm ly gián Tăng già. Dựa vào các bộ sử Nam truyền Phật giáo, một số học giả cho bia ký này được đức Asoka nói vào khoảng những năm cuối thời gian ông trị vì và bắt buộc thần dân trong nước phải thực thi. Riêng bản thân, gánh vác trên vai sứ mạng của một nhà chức trách, Asoka phải can thiệp chuyện chia rẽ. Chính ông đã cảnh báo: “Tăng già không thể phân chia bởi bất cứ người nào. Bất cứ Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào chia rẽ Tăng già sẽ bị buộc mặc áo trắng và bị trục xuất khỏi Tăng già.”2 Cũng thế, trong vai trò và trách nhiệm của một tín đồ Phật tử, ông phải có bổn phận gìn giữ sự thống nhất Tăng già. Theo đó, “Sắc lệnh này phải được thông báo cho cả Tăng đoàn lẫn Ni đoàn…”3

Hết lòng trong tinh thần Hộ pháp, Asoka cho phổ biến đạo dụ đến mọi tầng lớp, hàng cư sĩ áo trắng cũng như khuyến khích các vị “tôn giáo quan” cần hiểu biết về sắc lệnh, cùng đến đây vào ngày trưởng tịnh để tăng trưởng đạo tâm. Ông bổ nhiệm các quan chức nhằm phục vụ các mục đích tôn giáo và nắm giữ trọng trách giáo dục, hướng dẫn, giải thích về căn bản đạo đức: “xa cho đến nơi ở của các ngươi, hãy phái một vị quan của triều đình đến nơi để biết và thực hành theo sắc lệnh này.”4 Qua đó, nuôi dưỡng lòng nhân từ, trong sạch, chí thiện trong đời sống từ quan quân đến quần chúng. Xét riêng một gốc độ nào đó ở bia ký này, rất dễ ngộ nhận quyền tôn trọng tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo của nhà nước Maurya. Nếu không có sự tìm hiểu rộng, sâu về cuộc đời và sự nghiệp của Asoka đại đế, ai đó sẽ vội vàng cho ông cố tình áp đặt tôn giáo lên đời sống nhân dân. Song, nhìn nhận khách quan thì những đóng góp, quan tâm của ông được ghi lại trong nhiều tư liệu, bia ký dành cho các tôn giáo bạn cũng hết sức to lớn. Trong bia ký XII, chính ông đã ban bố chính sách tôn giáo với những lời lẽ như sau: “Người ta không nên chỉ kính trọng tôn giáo của mình và bài xích tôn giáo của người vì lý do này hay lý do khác. Vì làm như thế người ta chẳng những tự làm tổn thương tôn giáo của mình mà còn làm thương tổn tôn giáo của người khác.”5 Trong bia ký VI cũng ghi rằng: “Quả nhân tôn kính mọi giáo phái, cúng dường tất cả hàng đạo sĩ.” Thêm nữa… “Quả nhân chú tâm đến tất cả các tôn giáo, muốn mọi tôn giáo cùng phát triển.”6 Xem đó, ngoài việc cúng dường tứ sự cho Tăng già, Asoka còn thăm viếng, tặng quà và cúng dường tài vật cho các tu sĩ Bà-la-môn, các nhà tu khổ hạnh Kỳ Na giáo, ban tặng hang động Nigrodha và Khalatika cho các tu sĩ giáo phái Ájìvika. Phải nói rằng, chính sách và nghĩa cử nhân văn được ông xây dựng cũng nhờ giáo lý Đức Phật mở đường, hun đúc.

Như vậy, ngoài thông tin trên trụ đá cho thấy Asoka là một vị vua Phật tử nhiệt tâm lo lắng cho sự chia rẽ Tăng đoàn thì bia ký cũng đã đánh dấu xác nhận “các xung đột trong Tăng già cuối cùng đã chấm dứt và định nghĩa thế nào là Tăng già chính thống đã được thiết lập.”7 Có thể nói, trong vai trò của một hoàng đế hộ pháp đúng nghĩa, Asoka đã chặn đứng được sự xáo trộn trong nội bộ giáo đoàn, đưa Tăng thân trở về trạng thái thanh tịnh, hòa hợp vốn có của Phật giáo Nguyên thủy, đồng thời thúc đẩy niềm tin quần chúng đối với các bậc trưởng thượng giàu phạm hạnh, giới đức. Đáng khen cho Asoka, “Từ một bạo chúa chuyển thành một vị vua nhân ái, cai trị dựa trên nền tảng đạo đức Phật giáo, câu chuyện của Asoka quả là kỳ diệu, hiếm có trong lịch sử nhân loại…, Asoka ngộ ra được chính Phật pháp là con đường phù hợp nhất, đúng đắn nhất để ông mang lại thịnh vượng và hạnh phúc cho toàn dân cũng như để chuộc lại tội lỗi mà ông “đã vay của chúng sanh.”8 Tuyệt nhiên, ông “không tự sử dụng quyền lực tối cao của một vị vua chuyên quyền độc đoán mà chỉ đơn giản là đức vua tự nhận để thực hiện huấn thị của chính tôn giáo mà ông là tín đồ noi theo”.9

Thích Nữ Như Hạnh
(HVPGVN tại TP.HCM)


  1. Thích Nguyên Hiệp, Những di tích Phật giáo ở Ấn Độ, tr. 51.
  2. TT. Thích Chơn Minh, “Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, Sarnath pillar inscription”, Khóa XII.
  3. Nt.
  4. Nt.
  5. Thích Tâm Minh, Đức Phật vị sứ giả hòa bình, tr. 304.
  6. Trần Quang Thuận, Phật giáo Tích Lan, tr. 25 – 26.
  7. TT. Thích Chơn Minh, “Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, Sarnath pillar inscription”, Khóa XII.
  8. Lê Tự Hỷ, Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, tr. 132.
  9. Nt