Bia ký tại Girnar

211

  Trang sử vĩ đại của Asoka bắt đầu viết tiếp nhưng không quảng bá một đấng bạo chúa hung tàn mà để ghi nhận một bước ngoặt lớn trong những bước đi đầu tiên đầy lòng nhân ái, thánh thiện. Đó cũng là nội dung phản chiếu nhiều nhất của bia ký tại Girnar – một tập hợp 14 sắc lệnh nổi tiếng của vua Asoka, được tìm thấy khoảng một dặm về phía Đông Junagarh vào tháng 12/1822 bởi thiếu tá James Tod. Trong đó, có hai mãnh vỡ của phần sắc dụ bị phá vỡ và đã được hồi phục. Chính bia ký này đã khẳng định nguyên nhân vua Asoka theo Phật giáo được bắt đầu từ trận chiến Kalinga. Khiếp đảm trước “một trăm năm mươi nghìn người bị bắt làm tù binh, một trăm nghìn người bị giết và nhiều, nhiều hơn số đó nữa mất mạng vì ảnh hưởng cuộc chiến… đức vua cảm giác hướng về Chánh pháp, sự kính trọng Chánh pháp và muốn được huấn thị trong Chánh pháp.”1


Cũng mô tả tâm lý trên, tác phẩm Sử Phật giáo thế giới cho biết: “Canda Asoka chống gươm lặng ngắm thảm cảnh kinh hoàng. Trái tim của vị đại đế chùng xuống, ông cảm thấy hối hận, bẻ lưỡi gươm thề, quyết từ nay không sử dụng vũ lực để gây nên một cuộc can qua nào nữa…”2 Hối hận sâu xa trước cảnh tượng sát hại, chết chóc tang thương của cuộc chiến, hẳn Asoka vương thấm thía được bài học lớn nhất trong cuộc đời – một bài học được Đức Thế Tôn từng tuyên thuyết:

Sắc lệnh trên đá tại Girnar..

“Với hận diệt hận thù
Đời này không có được
Không hận, diệt hận thù
Là định luật ngàn thu”.3

“Dầu tại bãi chiến trường,
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.” 4

Để chuộc lại những lỗi lầm đã gây ra, Asoka nỗ lực khoan dung độ lượng, thu phục lòng người bằng đạo đức nhân ái: “Đức vua nghĩ rằng ngay cả những người làm việc sai quấy có thể tha thứ khi sự tha thứ có thể thực hiện được.”5 Song, trên cương vị của một quân vương, lòng bao dung của ông có giới hạn: “dù rất ăn năn nhưng ngài đủ sức mạnh để chinh phạt nếu họ cần thiết.”6 Xét thấy, điều này cũng dễ hiểu, Asoka không phải Phật hay bậc giác ngộ. Hẳn nhiên, phát ngôn đó không có ý uy hiếp, răn đe hay lột tả sự hung hãn của Asoka thêm một lần nào nữa, nhưng sự quay đầu của ông đủ cho người ta biết rằng ẩn ý tận cùng của lời cảnh cáo ấy chỉ mong muốn hướng con người bỏ tà quy chánh, bỏ ác làm lành. Chính việc làm này của Asoka đã cho thấy hoạt dụng rất lớn của Phật giáo. Quả thật, “Không hiếm các vị vua lịch sử mang tên như ông, Candasoka. Nhưng hiếm có vị vua nào lại có thể thay đổi tâm tánh một cách triệt để như Asoka để từ một người có biệt danh Candasoka người ta lại tôn xưng ông là Dhammasoka.”7

Như vậy, các bia ký tại Ginar làm nổi bật một Asoka trong vai trò sứ giả văn hóa, hòa bình, chủ trương từ bỏ chiến tranh và đề cao chính sách đức trị. Nghĩa cử này được tìm thấy trong lời tuyên bố: “Tiếng trống thúc quân ngày nào nay được thay thế bởi tiếng gọi Chánh pháp”8 và “Sự chinh phục của Chánh pháp là sự chiến thắng tối thượng.”9 Asoka nỗ lực truyền bá và nêu rõ lợi ích của Chánh pháp. Trong Kinh Tạp A-hàm, “Bấy giờ, vua cho khởi công xây dựng tám vạn bốn ngàn tháp Phật và trong mỗi tháp này lại bỏ ra ngàn trăm vàng để cúng. Lại cứ 5 năm tổ chức Đại hội một lần. Mỗi hội có ba trăm ngàn vị Tỳ-kheo. Dùng ba trăm ức vàng cúng dường vào trong chúng Tăng đó. Phần thứ nhất là A-la-hán. Phần thứ hai là những vị hữu học. Phần thứ ba là những phàm phu chân thật. Trừ kho tàng riêng ra, vật gì ở Diêm-phù-đề này; gồm phu nhân, thể nữ, thái tử, đại thần, đều có thể đem cúng dường cho Thánh Tăng, rồi dùng bốn mươi ức tiền vàng chuộc chúng trở lại. Như vậy mà tính toán cho đến dùng hết chín mươi sáu ức ngàn tiền vàng.” 10Thực tế, “tám vạn bốn ngàn tháp” chỉ là con số ước tính mang ý nghĩa “rất nhiều” mà văn hóa Ấn Độ đã dùng để mô tả về sự đóng góp lớn mạnh của ông.

Bên cạnh đó, “vua còn tìm cách làm thế nào để mọi người có thể chấp nhận tinh thần đạo đức, công chính, liêm minh. Vua đã sử dụng danh từ Dharma trong các bia ký nói lên lòng tôn kính đối với cha mẹ, các bậc trưởng thượng, các vị tôn sư, nói lên lòng tuân phục đối với quốc vương, nói lên sự kính trọng đối với Brahmanas, Sramanas, đạo sĩ,… nói lên lòng khoan dung độ lượng, thành tín, thuần khiết, chí tình, nói lên sự tiết kiệm, liêm minh.” 11Tuy nhiên, Asoka không sử dụng các thuật từ Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Dharma của Asoka là những căn bản đạo đức xã hội do Phật giáo chủ trương như: phản đối chiến tranh, tránh sự sát hại, kêu gọi ăn chay, không nói dối…

Niềm hỷ lạc trong Chánh pháp được lan dần trên khắp các tiểu quốc Ấn Độ cho đến các nước láng giềng. “Rõ ràng, động thái hòa bình và thiện chí của Asoka đã mở ra một bầu không khí hòa bình và hữu nghị rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Nhiều quốc gia ở châu Á và châu Âu đón chào thông điệp hòa bình hợp tác của ông.” 12Trong sự quyết tâm và mong mỏi đó, những pháp dụ của ông ban hành cũng mang thông điệp thức tỉnh, khuyên răn “để các con và các cháu không tiến hành các chinh phục mới nữa, hoặc nếu các cuộc chinh phạt của quân đội được tổ chức thì các cuộc chinh phục ấy thực hiện với sự nhẫn nại và sự trừng phạt nhẹ nhàng.”13

Núi Girnar nhìn từ Pháo đài Uparkot, Junagarh

Qua những thông tin từ bia ký, “Ta có thể nói rằng trận chiến Kalinga chẳng những là ngã rẽ quan trọng trong đời binh nghiệp của Asoka, mà cũng trở thành một trong những diễn biến quyết định đối với lịch sử thế giới. Ông nhận thức tánh cách điên cuồng của sự giết chóc và từ bỏ gươm đao. Ông là vị đế vương duy nhất được ghi nhận là sau chiến thắng vẻ vang, từ bỏ những cuộc xâm lăng bằng chiến tranh, và đề khởi những cuộc xâm lăng bằng thiện pháp. Ông thọc gươm vào vỏ, không bao giờ rút ra trở lại và không còn bao giờ muốn làm tổn thương chúng sanh nào.”14

Như Hạnh(Ni sinh HVPGVN tại TP.HCM)


  1. TT. Thích Chơn Minh, Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, “The Girnar rock”, Khóa 12.
  2. Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Sử Phật giáo thế giới, tập 1, tr. 55.
  3. HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Pháp Cú, số 5, tr. 8.
  4. Sđd, “Pháp cú số 103”, tr. 53.
  5. TT. Thích Chơn Minh, Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, “The Girnar rock”, Khóa 12.
  6. Nt.
  7. Thích Tâm Minh, A Dục vương – Cuộc đời và sự nghiệp, tr. 54.
  8. Sđd, tr. 306.
  9. TT. Thích Chơn Minh, Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, “The Girnar rock”, Khóa 12.
  10. Thích Hạnh Bình biên soạn, Những vấn đề cốt lõi trong kinh Tạp A-hàm, tr. 247.
  11. Trần Quang Thuận, Phật giáo Tích Lan, tr. 26.
  12. Trần Quang Thuận, Phật giáo Tích Lan, tr. 26.
  13. TT. Thích Chơn Minh, Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, “The Girnar rock”, Khóa 12.
  14. Phạm Kim Khánh dịch, Phật giáo nhìn toàn diện, tr. 577-578.