Bia ký tại Girnar

167

Với hình dáng không bình thường nằm trên ngọn đồi kề bên thị trấn Bairat, bia kí này được khắc trên một tảng đá gra-nít xám cứng do ông Burt phát hiện năm 1840. Sau đó, được đội trưởng Kittoe in thạch bản. Qua một số ý kiến tranh luận có vẻ lệch chuẩn địa lý, bia ký này được đổi tên gọi từ “chỉ dụ hay Sắc lệnh Bhabra” thành “Bijak-Pahar”. Tại đống tàn tích và đổ nát trên ngọn đồi, Cunninghum đã tìm được những phần vỡ vụn còn sót lại của hai tu viện Phật giáo.

Nội dung bia ký trên đá tại Bairat.

Bằng ngôn ngữ Prakit và chữ viết Brahmi, bia ký tại Bairat thể hiện rõ niềm tin mãnh liệt của vua “Thiện Ái Thiên Kiến” nước Ma Kiệt Đà đối với đạo Phật, đồng thời chấm dứt mọi tranh luận về tôn giáo ông theo ủng hộ. Đạo dụ được viết ra như một cuộc trò chuyện riêng giữa ông và Tăng chúng. Tại đó, sự lịch thiệp và từ tốn khi ông đảnh lễ Tăng già, “mong rằng các vị khỏe mạnh và an lạc” đã tạo ra một bầu không khí đầy thân thiện, quan tâm, kính trọng. Ông đã thật sự cúi đầu và sẵn sàng cúi đầu trước những cái đẹp, cái lành của nhà Phật. Hẳn nhiên, trên con đường chuyển hóa hướng đến đời sống thánh thiện, không có khoảng cách nào dành riêng cho sức mạnh của quyền lực hay vương vị. Chính tố chất này đã giúp cho Phật giáo có được sự ủng hộ từ hàng vua quan hoàng tộc và nhanh chóng đi sâu vào đời sống quần chúng. Do đó, không có gì quá ngạc nhiên trước thái độ thuần phục gần như tuyệt đối của Asoka đối với Tam bảo: “…thưa các Tôn giả, lòng tin bất thối và lòng kính trọng của trẫm đối với Phật, đối với Pháp và đối với Tăng”.1

Tu viện Bairat.

Thật sự, trước động thái không cần dè dặt, hoài nghi của một ông vua Phật tử, ai dám bảo Asoka chưa chín muồi niềm tin dành cho Phật pháp. Ngay tại bia ký này, ông khẳng định: “Bất cứ điều gì, thưa các Tôn giả, được tuyên thuyết từ đấng Giác Ngộ, tất cả điều ấy đều là thiện thuyết.”2 Hơn thế, trong cuộc nói chuyện, nhà vua rất mong mỏi và kỳ vọng Chánh pháp sẽ trường tồn nếu hàng Tăng Ni cũng như cư sĩ áo trắng thường trùng tụng, nếm được hương vị giải thoát từ 7 bài kinh do Đức Phật thuyết:

The Vinaya-samukasa: the Vinaya Exalted (Luật tạng, giới kinh): Nội dung của bài kinh này Đức Phật dạy về lợi ích của sự bố thí và tầm quan trọng của giới luật.
The Alya-vasas: the Traditions of the Elect (Maha-ariyavamsa Suttanta) (Kinh Phúng Tụng và Kinh Thập Thượng, 33 và 34 Trường Bộ Kinh): Nội dung bài kinh Đức Phật dạy về đời sống phạm hạnh của một người tu sĩ.

The Anagata-bhayas: the Future Dangers (of the Faith) Diệu Pháp Hỗn Loạn (Tăng Chi Bộ Kinh, chương 5 pháp): Bài kinh này Phật dạy chư Tăng nên điều phục nỗi sợ hãi và những lo lắng trong tương lai.

The Muni-gathas: the Stanzas on Muni (Kinh Ẩn Sĩ, 207 – 221, Kinh Tập, Chương 1, kinh 12). Nội dung bài kinh này Phật dạy về đời sống của người ẩn sĩ.
The Moneya-suta: the Discourse on Quietude (Kinh Nalaka, 699 – 723, Kinh Tập, chương 3, kinh 11). Kinh nói về sự vắng lặng tịch tĩnh của các vị Tỳ-kheo.

The Upatisa-pasina: the Questions of Upatisya (Kinh Sariputa, 955 – 975, Kinh Tập, chương 4, kinh 16): Bài kinh nói về những lời giáo huấn của Đức Phật với Ngài Xá Lợi Phất.
The Laghulovada: the Admonition to Rahula (Tiểu Kinh Giáo Giới La-hầu-la, 61 Trung Bộ Kinh) Đức Phật dạy cho Ngài La-hầu-la không được nói dối.3

Như vậy, việc trích dẫn 7 bộ kinh trong bia ký được xem là chứng tích lịch sử cho thấy rằng kinh điển đã được kiết tập và phổ cập trong quần chúng. Sở dĩ được nhấn mạnh vì“vua coi đó là quan trọng chuẩn mực đạo đức cần thực hành để thành người tốt hơn là triết lý suông làm thế nào để làm công dân tốt trong xã hội”.4

Như Hạnh (Ni sinh HVPGVN tại TP.HCM)


  1. TT. Thích Chơn Minh, “Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, The Calcutta – Bairat rock inscription”, Khóa XII.
  2. TT. Thích Chơn Minh, “Tài liệu Văn bia và khảo cổ học Phật giáo, The Calcutta – Bairat rock inscription”, Khóa XII.
  3. Nt.
  4. Nt