Bát Kỉnh Pháp trong Kinh Mahàpajàpatì Gotamì

680

  Cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, xã hội nước Ấn trước khi đạo Phật xuất hiện không tồn tại hai chữ “bình đẳng”, bộ mặt cuộc sống là sự phân chia giai cấp nặng nề. Mặc dầu bấy giờ có rất nhiều Đạo giáo nổi lên nhưng vành đai giai cấp vẫn chưa thể phá bỏ mà ngày càng sâu nặng hơn. Do đó, sự xuất hiện của một chân lý đem lại bình đẳng cho xã hội cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Chính vì vậy mà đạo Phật khơi nguồn tại Ấn Độ. Đức Phật xuất hiện như là một vị cứu tinh của nhân loại, với mục đích đem đến sự an lạc, hạnh phúc, hòa bình cho nhơn thiên. Như trong Kinh Tăng Chi Bộ có nói: “Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác. Chính một người này, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người.”

Đạo Phật với tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha và nhất là tinh thần bình đẳng vô phân biệt. Đã đi ngược lại hoàn toàn bối cảnh xã hội xứ Ấn thời bấy giờ là phân chia giai cấp rõ ràng và địa vị người phụ nữ không hề tồn tại trong lòng xã hội, cuộc sống của họ chỉ biết lệ thuộc vào nam giới. Người nữ luôn bị coi thường, sự tồn tại của họ chỉ như là để làm thú vui tiêu khiển cho đàn ông giai cấp quý tộc. Những tệ nạn áp bức, bóc lột, hà hiếp, bắt cóc, cưỡng ép phụ nữ làm tỳ thiếp, nô lệ… thường xuyên xảy ra. Vậy nhưng các giáo phái đương thời không hề mảy may quan tâm. Quan điểm và chủ trương của họ chỉ bàn về những vấn đề siêu hình, thần quyền…

Thái tử Tất Đạt Đa đau lòng thương xót khi chứng kiến nỗi khổ nhân sanh ngay trong bối cảnh xã hội ấy, nên Ngài từ bỏ vinh hoa phú quý, quyết tâm tầm cầu đạo giải thoát. Sau khi thành Chánh đẳng giác, Ngài đã thành lập Tăng đoàn, sáng lập nên một tôn giáo lấy từ bi – bình đẳng – vị tha làm tiên thuyết. Giáo pháp Ngài đưa ra phủ nhận mọi bất công trong xã hội. Và cũng từ đó, Ngài đã mở ra cho nữ giới con đường giải phóng mọi thân phận đen tối thấp hèn khi xuất gia bước vào đoàn thể Tăng già. Thành lập Ni đoàn là bước chuyển mình lớn trong công cuộc bình đẳng giai cấp Giáo đoàn Đức Phật. Tuy nhiên, muốn được xuất gia dự vào Tăng đoàn, Đức Phật ra điều kiện người nữ phải trọn đời hành trì Bát Kỉnh Pháp. Vậy tại sao Đức Phật lại chế Bát Kỉnh Pháp dành riêng cho Ni giới trong khi Ngài chủ trương bình đẳng để xóa bỏ giai cấp?

Trong Kinh Tăng Chi Bộ III, bài kinh Mahàpajàpatì Gotamì phẩm Gotamì đã đề cập đến câu chuyện nữ giới xin Đức Phật cho phép được xuất gia.

Sau khi lo xong tang lễ cho đức vua Tịnh Phạn, bà Mahàpajàpatì đã đến gặp Đức Phật ở Nirodha xin được xuất gia tu hành, nhưng Đức Phật đã từ chối lời thỉnh cầu ấy. Sau ba lần từ chối như vậy, Ngài trở về thành Vesàli. Di mẫu vẫn không nản lòng với ba lần từ chối ấy của Đức Thế Tôn. Bà đã cùng 500 công nương dòng họ Sakya từ bỏ cung vàng điện ngọc, địa vị cao sang nơi kinh thành Kapilavastu, cởi bỏ y phục gấm lụa, trang sức châu ngọc để cùng nhau cạo bỏ tóc, tự khoác lên mình mảnh y thô xấu, lập nguyện khổ hạnh, đi chân trần bộ hành đến Vesàli để tiếp tục cầu thỉnh Đức Phật xin được xuất gia. Trải qua quãng đường dài đầy nắng gió mưa bay, khi đến nơi “Mahàpajàpatì Gotamì, với chân bị sưng, với tay chân lấm bụi, khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính.”

Tôn giả Ànanda thấy sự kiên định quyết tâm xin xuất gia của Di mẫu và các Công nương như vậy rất xúc động bèn thay mặt Di mẫu vào xin Đức Phật cho người nữ xuất gia:
– Bạch Thế Tôn, có Mahàpajàpatì Gotamì, với chân bị sưng, với tay chân lấm bụi, đau khổ, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than đứng ở ngoài cửa nói rằng: “Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng”. Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.

– Thôi vừa rồi, này Ànanda, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Thế Tôn thuyết giảng.
Cả ba lần Tôn giả Ànanda thưa thỉnh đều bị Đức Thế Tôn từ chối như vậy. Tôn giả Ànanda lại thưa:
– Bạch Thế Tôn, không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A la hán quả không?
– Này Ànanda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A la hán quả.
– Bạch Thế Tôn, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, hay A la hán quả. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Mahàpajàpatì đã giúp đỡ Thế Tôn rất nhiều trong vai người dì, người vú, người kế mẫu, khi mẹ của Thế Tôn mệnh chung, lại cho Thế Tôn bú sữa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng”.
Và cuối cùng Đức Thế Tôn đã đồng ý với điều kiện nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận Bát kính pháp, Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua, thời Mahàpajàpatì có thể được thọ cụ túc giới:
Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỳ kheo ni đối với một Tỳ kheo mới thọ đại giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp.

Tỳ kheo ni không có thể an cư mùa mưa tại chỗ không có Tỳ kheo.

Nửa tháng một lần, Tỳ kheo ni cần phải thỉnh chúng Tỳ kheo hỏi ngày trai giới và đến để thuyết giới.

Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỳ kheo ni cần phải làm lễ Tự tứ trước hai Tăng chúng về ba vấn đề được thấy, được nghe và nghi.

Tỳ kheo ni phạm trọng tội, phải hành pháp pakkhamànattam (ma – na – đọa) cho đến nửa tháng.

Tỳ kheo ni sau khi học tập sáu pháp trong hai năm, phải đến xin thọ cụ túc giới trước hai Tăng chúng.

Không vì duyên cớ gì, một Tỳ kheo ni có thể mắng nhiếc, chỉ trích một Tỳ kheo.

Này Ànanda, bắt đầu từ hôm nay, có sự giáo giới phê bình giữa các Tỳ kheo về Tỳ kheo ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỳ kheo ni về các Tỳ kheo.

Này Ànanda, nếu Mahàpajàpatì Gotamì chấp nhận tám kính pháp này, thời cho phép Mahàpajàpatì Gotamì được thọ cụ túc giới.”

Di mẫu và các Công nương, Mệnh phụ phu nhân đều hoan hỷ chấp hành, cung kính lãnh thọ trọn đời. Từ đó Ni đoàn chính thức thành lập, thân phận người nữ khi gia nhập Giáo đoàn không còn bị đối xử bất công như ở ngoài xã hội, họ được tu tập bình đẳng giáo lý Đức Thế Tôn như bao con người khác cùng tu tập. Người nữ chỉ giới hạn nơi bình quyền, phải trọn đời tuân giữ Bát Kỉnh Pháp không sai phạm. Đây cũng chính là điểm mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển mình trong Giáo đoàn Đức Phật. Giờ đây, Giáo đoàn đã đầy đủ bốn bộ chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di với đủ mọi thành phần trong xã hội là những chứng minh sống cho tinh thần bình đẳng giai cấp, giới tính trong đạo Phật.

Những người xuất thân từ dòng dõi quý tộc dòng Sakya như Anuruddha, Ananda… đến những người từ giai cấp Thủ Đà La như Sunìta trong thời Đức Phật hiện tại, Ngài sanh trong một gia đình đổ rác, và sống với nghề đi quét đường, không đủ tiền để sống khỏi đói. Upàli là một người thợ hớt tóc. Từ những kẻ giết người khét tiếng “Angulimala, một thợ săn tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Vì nó mà các làng trở thành không làng, các thị trấn trở thành không thị trấn, Quốc lộ trở thành không Quốc lộ. Do nó luôn luôn giết người, nó mang một vòng hoa làm bằng ngón tay người”. Hay nàng kỹ nữ nổi tiếng Uppalavanna với cuộc đời đầy nghiệt ngã tang thương chồng chung với mẹ và chia chồng với con… Họ đều có thân phận khác nhau nhưng khi gia nhập vào Giáo đoàn Đức Phật đều không có sự phân biệt giai cấp giàu – nghèo, sang – hèn, nam – nữ… Tất cả đều trở thành bậc mô phạm của từ bi và trí tuệ cho xã hội, đều xứng đáng nhận sự tôn kính của thiên nhân, đều đồng chung một Phật tánh như trăm sông chảy về biển cùng mang một vị mặn, đều là vị giải thoát… Đức Phật không phải là nhà cách mạng giải phóng giai cấp hay thay đổi địa vị thân phận người nữ, cũng không phải muốn chống trái lại quy chế xã hội đương thời. Ngài chỉ là đấng Đạo sư của nhân thiên, chỉ ra những cái vô lý, những quan niệm sai lầm về giai cấp thời bấy giờ, xóa bỏ được những nghịch lý đó được hay không là do nhận thức của mỗi người. Đức Phật chỉ thay đổi giai cấp, đưa ra quan điểm bình đẳng cho những ai gia nhập vào trong phạm vi của Ngài. Còn ở ngoài xã hội thời đó, vẫn còn đầy dẫy những bất công, phân biệt đối xử hà khắc với các giai cấp thấp hèn, tầng lớp cùng đinh bị chà đạp, còn có những người thuộc tầng lớp thấp kém đến nỗi không được liệt kê vào các giai cấp thấp nhất đương thời như Thủ Đà La hay Chiên Đà La.
Trong kinh Niết bàn, Đức Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Như Lai thường trụ bất biến như như”. Phật tánh đó thường hằng bất biến, chỉ vì bụi vô minh phủ lấp nên họ vẫn còn mê mờ chưa được khơi sáng. Phật tánh đó cũng không phân biệt địa vị, giới tính… mà đều có chung khả năng giác ngộ như nhau. Ví như trong bốn bộ chúng hàng đệ tử Phật, nếu bên Tăng đoàn có thập đại đệ tử đứng vào hàng ngũ xuất sắc, đạt được nhiều thành quả trong tu tập như:

1. Trong các đệ tử Tỳ kheo đã lâu ngày của Ta, này các Tỳ kheo, tối thắng là Añña Koṇḍañña (A Nhã Kiều Trần Như).
2. Trong các vị đại trí tuệ… tối thắng là Sàriputta.
3. Trong các vị có thần thông… tối thắng là Mahàmoggalàna.

9. Trong các vị thuyết pháp… tối thắng là Punna Mantàniputta.
10. Trong các đệ tử Tỳ kheo của Ta, thuyết giảng rộng rãi những điều được nói lên một cách vắn tắt, tối thắng là Mahàkaccàna.
Thì bên Ni đoàn cũng có các bậc Ni lưu lỗi lạc, đạt được kết quả tu chứng cao có thể ngang tầm không thua kém gì bên Tăng đoàn như:

1. Trong các vị nữ đệ tử Tỳ kheo ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Màhàpàjapati.
2. Trong các vị… đại trí tuệ, tối thắng là Khemà.

13. Trong các vị nữ đệ tử Tỳ kheo ni của Ta… đầy đủ tin thắng giải, này các Tỳ kheo, tối thắng là Sigalàmàtà.
Hay các cận sự nam, cận sự nữ là những vị hộ pháp đắc lực, theo học giáo lý của Đức Phật, họ cũng đạt được nhiều kết quả tu tập ngang tầm xứng đáng, đều đạt được nhiều hỷ lạc như nhau:
* 10 vị hộ pháp là cận sự nam:
1. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, này các Tỳ kheo, đã quy y đầu tiên, tối thắng là các người buôn bán Tapassu Bhallikà.
2. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta… những vị bố thí, tối thắng là gia chủ Sudatta Anàthapidika.

9. Trong các vị… được dân chúng kính mến, tối thắng là Jìvaka Komàrabhacca.
10. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, nói chuyện một cách thân mật, này các Tỳ kheo, tối thắng là gia chủ Nakulapità.

* 10 vị hộ pháp là cận sự nữ:
1. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ của Ta, này các Tỳ kheo, người đi đến quy y đầu tiên là Sujàtà Senànidhìtà.
2. Trong các vị… bố thí, tối thắng là Visàkhà Migàramàtà.

9. Trong các vị… nói chuyện một cách thân mật… tối thắng là nữ gia chủ Nakulamàtà.
10. Trong các vị nữ cư sĩ đệ tử của Ta, này các Tỳ kheo, có lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn tối thắng là Kàlì, nữ cư sĩ ở Kulagharikà.

(còn tiếp)

Thích Nữ Thanh Nghiêm


  1. Thích Minh Châu dịch (2005), Kinh Tăng Chi Bộ 3, Chương VIII Tám Pháp VI, Phẩm Gotamì, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 649.
  2. Sđd, tr. 651.
  3. Sđd, tr. 652.
  4. Sđd, tr. 653.
  5. Sđd, tr. 655.
  6. Thích Minh Châu dịch (2001), Kinh Tiểu Bộ III, Trưởng lão Tăng Kệ. Chương Mười Sáu. Phẩm Hai Mươi Kệ, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 422.
  7. Sđd, Chương Mười Bảy, Phẩm Ba Mươi Kệ, tr. 455.
  8. Sđd, Chương Mười Bảy, Phẩm Mười Hai Kệ, tr. 342.
  9. Sđd, Chương Ba, Phẩm Ba Kệ, tr. 204.
  10. Thích Thiện Siêu (2003), Hư Tâm Học Đạo, 8. Chàng Vô Não, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 79.
  11. Thích Minh Châu dịch (2001), Kinh Tiểu Bộ 3, Trưởng lão Ni kệ. Phẩm Mười Một. Tập Mười Hai Kệ, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 645.
  12. Phật Đà Da Xá Trúc Phật Niệm Hán dịch, Tuệ Sỹ Việt dịch (2007), Kinh Trường A – Hàm, Tập 1, 5. Kinh Tiểu Duyên, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 185: “Này Bà Tất Tra, ngươi nên biết, hiện nay, trong chúng đệ tử của Ta dòng dõi không đồng, xuất xứ khác nhau, xuất gia tu hành ở trong giáo pháp Ta. Nếu có ai hỏi: ‘Người thuộc dòng nào?’, thì nên trả lời rằng: “Tôi là Sa môn, con dòng họ Thích. Hoặc có thể tự xưng: ‘Tôi dòng Bà La Môn, tôi đích thực sinh ra từ miệng Phật, hóa sinh từ Pháp, hiện tại được thanh tịnh, về sau cũng thanh tịnh. Tại sao thế? Vì các danh xưng Đại Phạm tức là đức hiệu Như Lai. Như Lai là con mắt của thế gian, là trí tuệ của thế gian, là Pháp của thế gian, là Phạm của thế gian, là Pháp luân của thế gian, là Cam lồ của thế gian, là Pháp chủ của thế gian vậy.”
  13. Pháp sư Từ Thông (Hiệu là Như Huyễn Thiền sư) biên dịch (2013), Đại Bát Niết bàn Kinh, Tập 2, Phẩm Thứ Hai Mươi Ba: Sư Tử Hống Bồ tát, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 350.
  14. Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương I Một Pháp XIV. Phẩm Người Tối Thắng, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 1996, tr. 49.
  15. Sđd, tr. 54.
  16. Sdd, trang 57