Ánh hào quang

431

  Niệm niệm vô ý thân
Vẹn tròn một lời nguyện
Cõi nước Tây phương thuở
Cúi lạy Đức Từ Bi.

Đối với người từ khi sanh ra đã ở trong một gia đình chuyên tu niệm Phật thì danh hiệu Đức Phật A Di Đà dường như luôn gắn liền bên môi. Từ bé con đã được nghe, được dạy rất nhiều từ những bậc Trưởng lão trong nhà về những lợi ích khi niệm Phật và phải mãi tâm thành hướng về thế giới Cực Lạc – nơi không có sự khổ đau. Điều đó khiến con luôn hằng ghi nhớ khắc sâu về hình ảnh của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác – Giáo chủ của cõi Tây phương, người đã tạo nên một đất nước tuyệt vời đến tột cùng.

Khi nhắc về Đức Phật A Di Đà, ta không thể nào không nhắc đến lịch sử của Ngài. Theo Kinh A Di Đà, về thời Đức Phật Thế Tự Tại Vương ra đời có một vị quốc vương tên Kiều Thi Ca. Có lần Vua Kiều Thi Ca nghe Phật thuyết pháp liền bỏ ngôi vua xuất gia làm vị Tỳ-kheo hiệu là Pháp Tạng, một hôm Ngài đảnh lễ Phật quỳ xuống chắp tay cầu Phật chứng minh và phát 48 lời nguyện. Do nguyện lực ấy nên sau này thành Phật hiệu A Di Đà.

Tên của Ngài có ba nghĩa: Vô Lượng Quang có nghĩa là hào quang trí tuệ của Ngài vô lượng vô biên chiếu khắp mười phương thế giới. Vô Lượng Thọ có nghĩa là thọ mạng của Ngài sống lâu không thể nghĩ lường được. Vô Lượng Công Đức có nghĩa là Ngài làm những công đức to lớn không thể kể xiết.

Khi được nghe về lịch sử của Ngài thì con cảm thấy thật kì diệu và tuyệt vời. Bởi lẽ đối với con khi còn bé, ngai vàng chính là một sức hấp dẫn khó mà có thể chối bỏ. Quyền lực, tiền tài và danh vọng đó là điều mà hầu như mỗi một người trên trái đất này đều muốn có, họ không ngừng tranh đấu lẫn nhau để đoạt lấy và hưởng thụ. Vì thế, một vị vua đứng trên đỉnh cao bởi vì ngộ được đạo, từ bỏ tất cả mà đi, trở thành một người tu mỗi ngày đi khất thực thì quả là một việc rất thiêng liêng và đầy nỗi niềm kính phục.

Không những thế, Ngài còn là một bậc rất đỗi từ bi, thương yêu chúng sanh như con của mình. Đức Phật A Di Đà đã phát 48 lời nguyện cứu độ muôn loài, trong đó có lời nguyện thứ 18 và 19 là niềm tin cho việc vãng sanh Tịnh Độ – cõi nước Cực Lạc. Nguyện thứ 18, Ngài đã nói: “Lúc tôi thành Phật mười phương chúng sanh chí tâm tin mộ muốn sanh về cõi nước tôi nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh, (trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch cùng hủy báng Chánh pháp), thời tôi không ở ngôi Chánh giác.” Nguyện thứ 19: “Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sanh phát Bồ đề tâm tu các công đức nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung, nều tôi chẳng cùng Đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.”

Thà từ bỏ ngôi Chánh giác nếu không thể cứu rỗi được người thành tâm hướng về Ngài với đủ điều kiện! Ta có thể thấy rằng tình yêu thương của Phật lớn đến nhường nào, Ngài luôn vững tin tạo hết mọi điều kiện để chúng sanh thoát khỏi cái vòng sinh tử, thoát khỏi nơi ngục tù đầy khổ đau. Vì thế, với những người có phát nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc cần phải tròn đầy đức tin và có đủ ba tư lương trên đường trường học đạo đó là: tín, nguyện, hạnh.

“Tín” là niềm tin vào Tịnh Độ, tin vào lời nguyện tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà, đây là căn bản của người tu. Nếu còn nghi thì “hoa không nở”. Trước nhất, đối với tất cả, chữ “tin” luôn là căn bản hàng đầu, bởi vì khi có tin thì mình mới có thể vững bước mà tiếp tục cuộc hành trình. Nó chính là cái đà, là nơi gốc rễ của mọi việc làm, chúng ta phải tạo dựng cho mình một niềm tin thì việc gì cũng sẽ được sự thăng tiến thúc đẩy tiến lên không lùi bước. Tuy nhiên, mọi sự quan trọng là Chánh Tin, phải tin một cách đúng đắn, có lý trí và lập luận rõ ràng. Như vậy đối với Kinh A Di Đà, ta phải luôn nhận định rằng người thuyết cho chúng ta biết về thế giới Cực Lạc chính là Đức Thế Tôn – bậc Thiên Nhân Sư, bậc cứu độ đời đã vì lòng từ bi thương xót cho chúng sanh đang bị khổ đau nhấn chìm muốn biết được cõi nước luôn có sự an lạc nên Ngài đã chỉ ra và nói cho tất cả nghe. Y cứ vào trong kinh, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã thuyết về y và chánh báo của Đức Phật A Di Đà nơi thế giới Cực Lạc ở phương Tây, cách cõi Ta Bà này mười muôn ức cõi Phật, chỉ bày pháp môn niệm Phật để được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Đức Thích Ca Mâu Ni đã chỉ ra vị trí, miêu tả còn đưa cả phương pháp để đến với thế giới ấy, chẳng lẽ chúng ta không tin lời Phật nói, Ngài có dối gạt chúng ta điều chi? Tin thật sự, nguyện thiết tha, tâm thường chuyên nhất. Pháp sư Tịnh Không có dạy: “Người nhất tâm nhất ý chuyên cầu Tịnh Độ, đối với các pháp thế gian lẫn xuất thế gian đều chẳng phan duyên, đấy mới là tín. Tin Tây phương Tịnh Độ, lại tin tham Thiền, lại tin trì giới, lại tin niệm chú, đó chẳng phải là chân tín, chẳng phải là tín hay sao?” Như vậy qua các điều đã nói rõ trên Tín là điều căn bản quan trọng trên con đường tu tập của chúng ta! “Dư chẳng hề chi, thiếu chẳng có gì.”
Còn đối với tư lương thứ hai đó là nguyện, nghĩa là nhất tâm thệ nguyện một lòng một dạ cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc quyết không thối chuyển. Kinh Hoa Nghiêm có đoạn: “Người khi gần lâm chung, trong sát na tối hậu, tất cả các căn đều bại hoại, tất cả các thân thuộc đều xa vời, tất cả các uy thế đều tan rã, chỉ còn nguyện lực là hằng còn theo dõi hướng dẫn trước mắt, trong một khoảnh khắc liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc.”

Nguyện lực đối với chúng ta rất quan trọng, có nguyện thì mới có nơi để nương về, cũng như khúc gỗ trôi dạt giữa biển khơi sóng lớn, nguyện tấp vào bến bờ nào cho an bình tránh khỏi cảnh đau khổ. Cũng vậy, mỗi người chúng ta cần phải lập nguyện ngay từ giây phút này, nguyện con khi lìa cõi trần này sanh về Cực Lạc như chim chóc tìm về tổ, như người đi xa nhớ quê hương. Như con thuyền lênh đênh trên mặt nước cần tìm về bến đỗ, chim non cần mái ấm khi đã chịu những ngày đông giá rét. Chúng ta phải tha thiết day dứt không ngừng như thế thì nguyện của ta mới cảm đến Phật và thệ nguyện của Phật mới có thể nhiếp thọ ta.

Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích Đại sư đã bảo chúng ta: “Có thể vãng sanh hay không được quyết định bởi có tín nguyện hay không?” Tin sâu, nguyện thiết là hai điều kiện không thể tách rời, có nó ta mới thật sự chân chính bước vào đường trường tu tập, nếu tín nguyện đầy đủ thì muôn người vãng sanh không sót một!

Điều kiện cuối cùng đó là Hạnh, là phải luôn chí thành khẩn thiết niệm câu Nam mô A Di Đà Phật mỗi thời khắc đừng để tạm quên.

Nam mô: là quy y, đoạn ác, tu thiện, tu tịnh nghiệp!
A Di Đà: là vô lượng giác, vô thượng, chí cực, đại thừa.
A: là mười phương, ba đời tam thế Phật.
Di: là tất cả chư Bồ tát.
Đà: là tám vạn chư kinh giáo của Phật.

Khi niệm Phật phải dồn hết tâm trí, ý nghĩ hướng về danh hiệu Phật A Di Đà, hình dung tướng tốt và công hạnh của Phật. Trong lúc công phu phải luôn chuyên tâm như rơi vào thiền định, không để cho bất cứ một niệm nào quấy nhiễu tâm trí của ta thì lúc ấy mới gọi là hành. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ Đại sư đã nói: “Nếu người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”, người tu đạo thật sự khi đã chú tâm công phu, dụng lực tham thiền niệm Phật thì có nề hà chi về lỗi của người hay của ta. Một lòng nghĩ đến câu niệm Phật tâm ý tự nhiên được sáng tỏ, rõ ràng, Phật Di Đà dạy niệm cho khỏi vọng ra ý ác, tu luyện tâm thanh tịnh, lâu ngày sẽ được dứt bặt vô niệm, tâm không tạp loạn.

Với đủ ba điều trên, tư lương đã vẹn toàn thì chỉ cần thời cơ chín mùi ắt sẽ được quả ngọt. Pháp sư Tịnh Không có dạy: “Người tu Tịnh Độ, tâm chuyên chú nơi y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây phương; trong mười hai thời, khởi tâm động niệm tưởng Tây phương Cực Lạc thế giới, hễ nghĩ bèn nghĩ tới Tây phương Cực Lạc thế giới, hễ niệm bèn niệm Tây phương Cực Lạc thế giới. Đấy chính là “trọn đủ tín, nguyện, hạnh”. Hội đủ ba điều kiện ấy, người đó quyết định vãng sanh.” Thiện Đạo Đại sư bảo: “Trăm người tu, trăm người vãng sanh; ngàn người tu, ngàn người vãng sanh”.

Chúng ta phải luôn cố gắng nỗ lực bởi vì ta còn là chúng sanh đã tạo biết bao nghiệp chướng, tâm còn nhiều tạp niệm, giờ đây thành tâm hối cải, phát nguyện một lòng nương theo Chánh pháp, mỗi mỗi niệm niệm tăng trưởng phước lành.

Lại nữa, trong cõi đời ác trược này người người đều đau khổ, giàu cũng khổ mà nghèo thì cũng khổ. Bởi chúng ta là con người mà phần “con” của chúng ra vẫn còn thế nên khó thể nào tránh khỏi vướng phải những thói đời đầy tạo nghiệp. Nghiệp thì có nghiệp ác, nghiệp lành, nhưng đa số mọi người đều kêu gào than khóc, đó chẳng phải ác lấn hơn phần nhiều so với thiện ư? Ngày nay chúng ta thấy rõ, thiên nhiên bị tàn phá nặng nề dẫn đến nhiều thiên tai và dịch bệnh. Con người chúng ta là một sinh vật vô cùng nhỏ bé và đầy sự tham lam. Mê mẩn những điều tốt đẹp và an lành, khát cầu đến sự an lạc và hạnh phúc. Vì nhìn ra điều đó, nên Đức Phật đã từ bi chỉ ra cho chúng ta thấy được Chánh pháp và dẫn dắt cho chúng ta đi trên bước đường giải thoát.

Với truyền thống của gia đình, con từ nhỏ đã luôn niệm Phật. Con cảm thấy bản thân mỗi ngày đều niệm Phật khiến con được có sự chở che và an lành. Như một lòng tin vững chắc hướng đến Đạo pháp dìu bước con khỏi những cám dỗ trong cuộc đời, đưa con ra khỏi đám bùn lầy nhơ nhớp. Con một lòng tin nơi Phật, nương theo Chánh pháp mà học hỏi, tu tập, khiến con không ngừng nỗ lực để vươn lên đưa thân tâm mình gần với Ngài, tiếp cận Ngài với sự cố gắng vượt lên chính mình, tiêu trừ những chướng ngại, một lòng vững tin nơi Ngài và nơi bản thân mình!

Đức Phật A Di Đà là tha lực, cứu độ chúng ta khi chúng ta cần tin Ngài. Tha lực của Ngài luôn mạnh mẽ không thể nghĩ bàn, ánh hào quang Ngài chiếu soi, đưa những chúng sanh từ cõi mê sang bờ giác mà không cần bất cứ hồi đáp nào. Ánh sáng Ngài chiếu đến tất cả, vô lượng vô ức không thể tưởng nổi, là ánh sáng của giác ngộ, ánh sáng của từ bi!

Với tha lực đầy huyền diệu của Phật chúng ta còn cần đến một yếu tố cực kì quan trọng đó chính là tự lực. Tự lực có nghĩa là: Trì giới, Trì Tuệ và Thiền định. “Tự lực tự cường” bản thân chúng ta phải luôn không ngừng nỗ lực hành trì Giới, Định, Tuệ để tạo cho mình một công năng tu tập vững chắc. Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật dạy hàng đệ tử: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”, đó chính là ví dụ điển hình của tự lực. Con người chúng ta là một sinh vật vô cùng nhỏ bé cần được sự dẫn dắt, tiếp độ của những bậc thánh nhân, tuy nhiên chính bản thân mình cũng phải có sự tu tập mạnh mẽ mới có thể vững bước trên đường đạo giải thoát. Trong Pháp môn Tịnh Độ thì hai thứ, tha lực và tự lực là không thể thiếu, tu tập phấn đấu hành trì các pháp tiến lên đạt sự thăng tiến cùng nhờ tha lực mạnh mẽ của Đức Phật A Di Đà để ta hoàn toàn được cứu độ, thoát khỏi biển mê đến bên bờ an lạc vĩnh cửu!


Nhân vào ngày Vía Đức Phật A Di Đà con xin tưởng niệm đến Ngài và kính nguyện mười phương chư Phật gia hộ cho toàn thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc!
Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Thích Nữ Chân Mỹ