Ánh Đạo Vàng

43

Vạn năm Ngài tỉnh thức
Chúng sanh mãi còn mê
Rủ lòng Ngài giáng thế
Ánh đạo vàng sáng soi.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni_ Vị Giáo chủ cao cả của Phật giáo, vì một nhân duyên lớn, muốn “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” nên cuộc đời của Ngài hy sinh tất cả cho chúng sanh để mọi người thoát khỏi lầm mê nhận thấy được sự giác ngộ. Dù có dùng bao nhiêu từ ngữ kính quý đến đâu thì cũng không thể nào nói lên được sự vĩ đại của Ngài đã đem đến cho nhân loại, Ngài đã bỏ nơi Thiên cung vui sống mà cam chịu bao nổi gian lao trong kiếp sống này để đưa sinh linh trở về bến giác.
Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về tiền thân hai kiếp sau cùng, trước khi Đức Phật thị hiện đản sanh và thành đạo.

Theo kinh Tiểu Bộ (Khuddaka nikāya) và kinh Bổn Sanh (Jātaka), ở kiếp Trang nghiêm quá khứ xa xưa, tiền thân của Đức Thế Tôn là vị Thái tử tên là Samantāprabhasa (Phổ Quang) con vua Arcimat (Đăng Chiếu) đã xin phép vua cha vào núi Himalaya tìm thầy học đạo, lấy hiệu là Sumedhā (Thiện Huệ).

Sau này Ngài theo Phật Dīpankara học đạo và thọ Bồ tát giới và Tỳ kheo giới. Ngài luôn tinh tấn tu hạnh Bồ tát. Một hôm đức Phật Dīpankara đi từ tinh xá Sudassana đến thành phố Ramma, giữa đường gặp chỗ đất lầy, Bồ tát Sumedhā liền cởi áo đương mặc mà trải lên chỗ dơ ướt, nhưng còn hụt một chút không biết làm sao, ông bèn xả tóc lót thêm cho Phật đi qua khỏi lấm chân. Nhận thấy Bồ tát Sumedhā sẽ thực hành đầy đủ 10 thánh hạnh nên đức Phật thọ ký cho ông sẽ thành Phật hiệu là Sākyamuni (Thích Ca Mâu Ni) trong Hiền kiếp.

Đến lúc Phật Kassapa (Ca Diếp) ra đời, nhằm Hiền kiếp thứ chín, Bồ tát Sumedhā (Thiện Huệ) tái sanh làm Thái tử Vessantāra (Hộ Minh), chuyên thực hành hạnh bố thí từ lúc ấu thơ; khi lớn lên làm vua, rồi xuất gia theo Phật Kassapa và trở thành Bồ tát Vessantāra (còn gọi là Svetaketu). Nhờ công hạnh đầy đủ nên khi lâm chung Bồ tát Vessantāra được sanh về cõi trời Đâu Suất (Tusita) làm Bồ tát bổ xứ, lãnh đạo chư Thiên cõi này và diễn thuyết pháp mầu cho Thiên chúng nghe.

Ngài ở Đâu Suất bốn ngàn năm, dùng pháp tướng để giáo hóa chúng sinh. Một hôm, Ngài nhìn xuống thế gian thấy chúng sinh phần nhiều chỉ đua nhau tạo ác, chìm đắm trong tà kiến, không biết tin nhân quả tội phước, sống đau khổ về thể xác lẫn tinh thần, chết bị đọa trong ba đường ác. Ngài phát tâm từ bi, nguyện giáng thế để giáo hóa chúng sinh, mang đến ánh sáng chân lý để cứu chúng sinh thoát khỏi sanh già bệnh chết, chứng được đạo quả Niết bàn, an lạc thanh tịnh. Ngay lúc đó, toàn thân Ngài phóng đại quang minh, đại địa mười tám tướng động, ma cung ẩn náu, mặt trời mặt trăng hết tinh quang, chấn động tất cả thiên long bát bộ. Ngài liền quan sát năm việc dưới đây:

1. Quan sát thời kỳ, Ngài thấy tuổi thọ con người lúc bấy giờ khoảng 100 năm, rất thuận lợi; vì với thọ mạng quá dài con người không ý thức được thế nào là già chết, với thọ mạng quá ngắn thì không có đủ thời gian tu tập.
2. Quan sát lục địa, Ngài chọn Jambudipa (Diêm phù đề, bán đảo Ấn Độ) vì lúc bấy giờ ngôn ngữ và tư tưởng triết học nơi đây được phát triển hơn hết.
3. Quan sát quốc độ, Ngài chọn Majjhimadesa (vùng Trung Ấn, thung lũng sông Hằng); vì nơi đây có nhiều nhà hiền triết và minh quân xuất hiện.
4. Quan sát chủng tộc, Ngài chọn dòng dõi Sàkya (Sākiya) với vua Suddhodana là người có tâm đạo nhất. Theo kinh Lalitavistara (Tiểu Sử Đức Phật) thì dòng họ này có 64 đức tính cần thiết.
5. Quan sát người có đủ đức tính làm mẹ vị Phật tương lai, Ngài chọn hoàng hậu Ma Da; biết rằng bà chỉ còn sống thêm 10 tháng 7 ngày nữa. Theo kinh Lalitavistara thêm, bà Maya có 32 đức tính cần thiết.

Khi thấy cơ duyên đã đến, Bồ tát Vessantāra (Hộ Minh) bèn phó chúc ngôi vị lãnh đạo chư Thiên lại cho ngài Maitreya (Di Lặc) làm Bồ tát bổ xứ, rồi từ cung trời Tusita (Đâu Suất) giáng trần, thị hiện thành một con voi trắng sáu ngà nhập thai vào hoàng hậu Ma Da lúc lễ vía Tinh tú tại thành Kapilavatthu, tộc Sākya, gần chân núi Himalaya, thuộc vùng biên giới Đông – Bắc nước Ấn Độ và Nepal ngày nay.

Sáng ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch năm 624 TCN, tại vườn Lâm-tỳ-ni cách thành Ca-tỳ-la-vệ 15 cây số, hoàng hậu Ma Da đang ngoạn cảnh, trông thấy cành hoa Vô Ưu mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải với hái thì Thái tử cũng vừa đản sanh tại đây.

Ngày đản sanh của Thái tử Tất Đạt Đa trong thành cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa kết trái; sông, ngòi, mương, giếng nước đều trong đầy; trên hư không chim chóc và hào quang chiếu sáng cả mười phương. Vạn vật hân hoan cung kính đón chào sự xuất hiện của Ngài ở cõi Ta bà này, chúng đều cảm nhận được một vị vĩ nhân đã đến đây nhằm cứu độ chúng sanh.

Trải qua 19 năm sống trong nhung lụa nhưng không thể nào ngừng được sự khát cầu đạo pháp của Thái tử. Đêm khuya ngày mồng 8 tháng 2, Ngài vứt bỏ cuộc đời vương giả, đi vào rừng sâu tìm Đạo.

Thời gian mãi trôi, Ngài từ chỗ này lại đến chỗ khác, học tu nhiều nơi, khổ hạnh nhiều lần nhưng vẫn chưa thể tìm ra bước đường giải thoát. Đến khi Ngài kiệt sức và được cô gái chăn cừu cho một bát sữa, làm Ngài nhận ra và tỉnh lại. Ngài đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng: “Nếu ta không thành được Đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy rời khỏi chỗ này.”

Suốt 49 ngày, Thái tử đã chiến thắng được cả giặc nội tâm lẫn ngoại cảnh, tâm trí được khai thông, Ngài hốt nhiên đại ngộ. Trong đêm thứ 49, Ngài chứng được Tam minh: Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh. Ngày mồng 8 tháng 12 Ngài được Đạo vô thượng thành bậc “Chánh đẳng Chánh giác” hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni.

Đức Phật đã vì đại nguyện mà xuất gia tìm đạo, sau khi giác ngộ viên mãn, Ngài cũng vì đại nguyện mà hóa độ chúng sanh. Ngài có một sứ mạng vô cùng lớn lao là chuyển mê khai ngộ cho tất cả mọi người_ một điều không dễ dàng thực hiện được bởi vì, chúng sanh muôn kiếp đã bị u mê chìm đắm, căn cơ lại không đều mà Đạo pháp lại quá cao thâm huyền diệu. Nhưng nhờ vào trí tuệ sáng suốt và lòng từ bi rộng lớn Đức Phật đã tìm ra ba nguyên tắc mà hóa độ cho người. Đó là:

1. Hóa độ theo thứ lớp, căn cơ.
2. Hóa độ tùy phương tiện.
3. Hóa dộ theo tinh thần bình đẳng.

Như vậy qua ba phương pháp này đã giúp cho hàng triệu người được giác ngộ, vạn người vui tươi.

Trong một đời của Đức Thế Tôn, 49 năm Ngài không ngừng thuyết pháp giáo hóa đã tạo nên Tam tạng kinh điển cho con cháu sau này. Trong đó về phần tạng Kinh, Ngài đã chia làm năm thời: Thời thứ nhất Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, thời hai nói Kinh A Hàm, thứ ba là Kinh Phương Đẳng, thứ tư Kinh Bát Nhã và cuối cùng thời thứ năm Phật nói Kinh Pháp Hoa. Về năm thời thuyết Pháp này, cổ nhân đã làm bài kệ như sau:

“Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhựt
A Hàm thập nhị Phương Đẳng bát
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm
Pháp Hoa, Niết bàn cộng bát niên.”

Dịch:

“Trước nói Hoa Nghiêm hăm mốt ngày
A Hàm mười hai, Phương Đẳng tám
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã
Pháp Hoa Niết Bàn cọng tám năm.”

Ròng rã 49 năm Đức Phật vì Đạo pháp mà thuyết giảng, Đạo Bồ đề từ đấy đã ăn sâu vào gốc rễ trên bán đảo Ấn Độ bao la và trở thành một tôn giáo chính của các nước lớn, nhỏ thời bấy giờ. Như vậy, sau khi tự giác, đã giác tha cho đến tận đây, giác hạnh của Ngài đã được viên mãn. Lúc này Phật đã 80 tuổi vào hạ ở rừng Sa-la trong xứ Câu-ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm Ngài thông báo với A Nan rằng sau ba tháng nữa thì Đức Phật sẽ nhập Niết bàn.

Đến tận cuối đời, Đức Phật vẫn luôn không ngừng thuyết giảng, đi truyền đạo. Ngày rằm tháng 2 âm lịch, khi tất cả đệ tử và tín đồ đã hội tụ đông đủ (chỉ trừ Ngài Đại Ca Diếp vì đi truyền Pháp xa nên chưa về kịp) thì Ngài đã dặn dò một lần cuối, thuyết kinh Di Giáo. Nói xong, Ngài nhập định rồi vào Niết Bàn. Lúc bấy giờ, rừng cây Ta-la tuôn hoa phủ xuống lên thân Ngài, trời đất u ám, cây cỏ héo úa, chim chóc im bặt tiếng hót. Vạn vật như chìm trong những giây phút nặng nề của sự chia ly.

Xuyên suốt qua từng kiếp của Đức Phật, Ngài vẫn luôn là người từ bi mang hạnh Bồ tát. Đến cả tại Hiền kiếp, sau khi đạt thành đạo quả Vô Thượng thì Ngài vẫn không nhập Niết bàn ngay mà lựa chọn giáo hóa, phổ độ chúng sanh. Đức Phật mặc dù là một đấng xuất phàm nhưng khi xuất gia Ngài cũng phải học hỏi đêm ngày, hao tốn bao nhiêu sinh lực mới phát huy ra được điều mầu nhiệm để lại cho ta. Đời Ngài là những biểu hiện của giáo lý, mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói và cả sự im lặng của Ngài đều là những bài học quý giá cho chúng ta. Thấy rõ được giáo lý của Đức Phật chính là điều mà người đời có thể thực hiện được, chứ không phải là điều không tưởng như xây lâu đài trên mây, hái trăng trên trời.

Một chặng đường dài, ánh đạo vàng chiếu rọi khắp muôn phương, với sự hy sinh, lòng từ bi rộng lớn cùng với trí tuệ sáng suốt, Đức Phật đã để lại một kho tàng quý giá cho chúng ta với vạn điều tri thức giúp ta thoát khỏi lầm mê mà trở về với Phật tánh. Theo dấu chân xưa Ngài đã để lại, bấy giờ với cương vị là người con của Phật, chúng ta phải phát tâm rộng lớn và mạnh mẽ trong sự tu hành, không ngừng phấn đấu học tập mới không phụ ý nguyện lớn lao của Đức Phật khi giáng sanh xuống cõi Ta – bà này.

Để tôn vinh giá trị đạo đức, văn hóa, tư tưởng hòa bình, đoàn kết hữu nghị của Đức Phật, ngày 15 tháng 12 năm 1999, theo đề nghị của 34 quốc gia có Phật giáo Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại phiên họp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự đã công nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa, tôn giáo quốc tế của Liên Hiệp Quốc.

Những hoạt động kỷ niệm được diễn ra hàng năm tại trụ sở và các trung tâm của Liên Hợp Quốc trên thế giới từ năm 2000 trở đi, thời gian tổ chức vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng 5 dương lịch.

Hưởng ứng chủ trương của Liên Hợp Quốc, từ năm 2000, Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm nào cũng cử đoàn đại biểu của Phật giáo Việt Nam tham gia Đại lễ Vesak quốc tế được tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc hoặc ở các nước có Phật giáo đăng cai.

Việt Nam ta đã ba lần đăng cai tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc. Lần thứ nhất, Việt Nam đăng cai và phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Đại lễ Vesak 2008 tại Thủ đô Hà Nội.

Với lần tổ chức đầu tiên, đã có 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có Phật giáo đã tham gia với trên 850 vị khách quốc tế là đại biểu chính thức, trên 10.000 Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài nước.

Lần thứ hai, Đại lễ Vesak năm 2014 tại Bái Đính tỉnh Ninh Bình. Việt Nam đã mời 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, 95 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự với trên 1050 đại biểu quốc tế chính thức và hơn 600 du khách quốc tế tham dự. Đại lễ với sự tham gia của trên 20.000 Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài nước với nhiều hoạt động phong phú.

Và Lần thứ 3, TTO – Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc lần thứ 16 năm 2019 (Vesak 2019) đã khai mạc ngày 12 – 5 tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Tam Chúc, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Phát biểu tại lễ khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Đại lễ Vesak chính là dịp để tôn vinh Đức Phật và suy ngẫm về chân lý hòa bình, giảm thiểu xung đột, khổ đau của loài người, ngợi ca và thúc đẩy tình hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia, mang lại hòa bình an lạc cho toàn nhân loại và kiến tạo cõi Niết bàn trong thế giới hiện thực.
Ba lần Việt Nam đăng cai Đại lễ Vesak đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong tình cảm bạn bè và Phật giáo thế giới về đất nước, con người Việt Nam, thể hiện sự lớn mạnh của Phật giáo Việt Nam,…

Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc lần thứ 16 – 2019 (Vesak 2019) tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Tam Chúc, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Qua những điều trên, chúng ta thấy rõ được Đấng giác ngộ đã đem ánh đạo vàng soi sáng rực rỡ khắp hành tinh này làm cho vạn vật được an lành. Vì vậy, một lần nữa, chúng ta với tư cách là người theo gót chân Phật, hãy không ngừng tinh tấn vượt lên, tu hành cho đến ngày viên mãn!
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Tịnh Mỹ