4.8 C
London
Monday, December 6, 2021

Ẩn tu hay tu tập giữa cộng đồng? (phần 1)

HĐ – Hầu hết chúng ta luôn mong muốn loại bỏ đau khổ. Chúng ta không biết kiếp sau của mình như thế nào, có quay trở lại trong một kiếp sống tốt, là một người thông minh hay là một giảng sư hay không. Vì vậy, chúng ta phải mạnh mẽ, quyết tâm làm điều đó ngay trong kiếp này và ngay bây giờ. Trong truyền thống Tây Tạng, những người có thể duy trì cách nghĩ này lâu dài, ta thấy cách thực hành của họ rất chân thực. Nhưng tất nhiên, không phải tất cả mọi người đều có thể và phải làm điều này, vì mỗi người đều khác nhau. Trong khi một số người có thể được khơi nguồn cảm hứng và dễ dàng tập trung tu tập, một số khác lại thường cảm thấy cô đơn hoặc cần sự khích lệ từ bên ngoài để nỗ lực. Sẽ thật tuyệt vời nếu mỗi người đều có thể tự nỗ lực, nhưng thông thường, sự khích lệ từ bên ngoài cũng rất cần thiết. Bản thân chúng ta nếu không thận trọng cũng sẽ dễ dàng bị xao nhãng bởi những tác động từ bên ngoài. Đối với một số người, họ có thể sẽ chọn ẩn tu để hoàn toàn tập trung tu tập thay vì sống giữa mọi người. Nếu ta sống tách biệt, ta dễ tưởng tượng rằng mình rất nhẫn nại và từ bi, vì chẳng có ai giúp ta kiểm chứng điều đó. Ta sẽ thường nghĩ rằng: “Ôi, tôi hạnh phúc quá! Mọi thứ thật đáng yêu! Tim ta đầy ắp yêu thương và bi mẫn.” Vì vậy, người ẩn tu dễ tự lừa gạt bản thân mình và họ cho rằng họ có nhiều hơn những thứ thực tế họ có, vì họ không gặp nhiều thử thách. Khi ẩn tu, họ có thể sẽ nhận thức được một vài thay đổi của bản thân, nhưng đây chỉ là khởi đầu, không phải là điểm cuối cùng của quá trình giác ngộ, nghĩa là họ sẽ cần phải nỗ lực thêm rất nhiều nữa. Họ cần những mùa an cư dài, vì quá trình thay đổi nhận thức của bản thân cũngcần rất nhiều thời gian. Họ cần nhận thức chính mình từ sâu bên trong. Rất nhiều người sau khi ẩn tu, khi quay lại với cuộc sống giữa cộng đồng thì những nhận thức đó lại tan biến đi.

Một phương pháp tu tập khác đó là tu tập giữa cộng đồng. Bản thân Đức Phật cũng có những người bạn đồng hành rất tốt. Ananda cũng nói rằng: Tình bằng hữu và những người bạn đồng hành là một phần rất quan trọng trong cuộc sống tu tập. Thực tế điều đầu tiên Đức Phật làm sau khi giác ngộ là thành lập Giáo đoàn gồm cả Tăng, Ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Ngài nói: Để Phật giáo có thể phát triển thịnh vượng trên thế giới, một Giáo đoàn có đủ tứ chúng là vô cùng cần thiết vì tất cả mọi người đều có thể tu hành và truyền bá đạo pháp. Ngài chưa bao giờ nói rằng, chỉ Tăng hay nam giới mới có thể làm điều đó. Thuận lợi của việc tu tập giữa cộng đồng cũng rất nhiều, chẳng hạn như tỏ ngộ được Phật tính, điều này không hẳn chỉ phụ thuộc vào thiền định; phát triển được những phẩm chất về đạo đức như lòng bi mẫn, yêu thương, nhẫn nại, quan tâm, kỷ luật,… Những phẩm chất này gần như có sẵn trong mỗi người.
Thứ nữa, ta thường nhầm tưởng rằng bản thân đã có những phẩm chất này rồi, nhưng khi có phiền toái, ta lại sân si, nên việc tu tập giữa cộng đồng giúp ta có thêm cơ hội để quán sát xem điều gì đang xảy ra trong ta. Vì vậy, người tu tập giữa cộng đồng cần có thêm những kỹ năng khác để thích ứng. Chẳng hạn, trong tự viện, quý vị không thể nói: “Tôi thích bạn, bạn đến đây ở với tôi đi.” Quý vị không thể chọn lựa những người tốt nhất để đến sống cùng với mình. Rất nhiều người khác nhau từ nhiều hoàn cảnh khác nhau đến đây để sống. Vì vậy, đây là nơi tốt hơn để thực hành từ bỏ bản ngã. Trong kinh sách, Đức Phật cũng nhấn mạnh rất nhiều rằng sự hài hòa là cần thiết trong cuộc sống cộng đồng.

Trong thời gian tôi tu tập theo phương pháp sống giữa cộng đồng, có nhiều vị Tăng, là những người thực tập Yoga, họ cũng có thể được gọi là những bậc Giác ngộ. Một lần, tôi có dịp đến gặp một bác sĩ người Tây Tạng, ông ấy đang bốc thuốc. Ông đưa cho tôi một gói thuốc, trong đó gồm nhiều loại thảo dược kết hợp lại với nhau. Ông chia những loại thuốc khác nhau thành những gói nhỏ và xâu chúng lại thành một sợi dài trông giống như sợi xúc xích. Sau đó, ông liên tục nâng lên lắc xuống sợi xúc xích đó, các gói thảo dược liên tục cọ xát vào nhau. Một tuần sau, ông mới mở gói thuốc đó ra, ông bóc các lớp vỏ thì thấy lộ ra ở bên trong một thứ hạt cứng và rất đẹp như những hạt ngọc. Tương tự, thay vì sống rời rạc, tách biệt, chúng ta nên sống cùng nhau, va chạm, cọ xát thường xuyên thì sẽ có cơ hội được rèn giũa và tỏa sáng hơn. Cộng đồng sẽ đào tạo, rèn luyện cho chúng ta và làm cho chúng ta thay đổi. Vì lý do này, Đức Phật nhấn mạnh rằng, việc sống giữa môi trường cộng đồng rất quan trọng và sống một cách hài hòa càng quan trọng hơn.

Ở những đất nước Phật giáo, có những người sống cùng nhau, tu hành rất nghiêm túc, tuân theo những quy định, quy tắc rất nghiêm ngặt để có thể trở thành những người tu tập chân chính. Họ mở lòng với mọi người xung quanh. Mọi người đều có thể cùng ngồi với nhau trong trạng thái tỉnh thức. Ngày nay, không chỉ ở phương Tây, ngay cả ở châu Á cũng vậy, càng ngày những người tu hành chân chính không còn giới hạn là Tăng Ni, mà còn bao gồm cả cư sĩ. Giới cư sĩ này không như những thế hệ trước, đa số họ thuộc tầng lớp trí thức. Họ có thể tìm đọc về Đạo pháp. Và họ không chỉ đọc, mà còn hiểu về Đạo pháp. Ngày nay, một khối lượng khổng lồ tài liệu Phật giáo được nhân rộng khắp thế giới qua các trang mạng, nên không chỉ riêng Tăng đoàn mới có thể nghiên cứu mà Ni giới và cư sĩ cũng có thể dễ dàng tiếp cận. Vì vậy, ngày nay, đặc biệt là ở phương Tây, nhiều giảng sư nổi tiếng lại là cư sĩ và trong đó cũng có nữ giới, thật kỳ lạ! Những cư sĩ này cũng muốn được tu tập theo Đạo pháp để được giác ngộ và được hạnh phúc. Đương nhiên, đây là một điều nguy hiểm (vì tu sĩ không còn là những người duy nhất nắm giữ Giáo pháp).

Hiện nay, điều quan trọng trong cuộc sống cũng đang thay đổi: người ta muốn tất cả mọi thứ. “Từ bỏ” là một từ không hay, không ai muốn từ bỏ bất cứ thứ gì. Cũng có nghĩa là, đôi khi Giáo pháp trở nên mờ nhạt, mọi người không còn muốn nghe về việc  bỏ. Họ cần được thỏa mãn nhiều hơn, không thể từ bỏ lòng tham. Dù vậy, vẫn còn nhiều cư sĩ tu tập thật sự và muốn thực hành chân chính để đáp lại xã hội, cụ thể là những nữ tu sĩ và cư sĩ ở những nước theo Đại thừa đang tham gia trong những hoạt động xã hội tại các trường học, bệnh viện,… Tu sĩ không lo lắng về gia đình, vì vậy họ hoàn toàn cống hiến, hy sinh và dành toàn bộ thời gian cho xã hội. Rất nhiều người vì nghĩ làm những việc này nhằm mục đích truyền trao Giáo pháp nên dành quá nhiều thời gian vào công tác xã hội, vô tình ảnh hưởng đến việc tu hành của bản thân. Điều quan trọng là chúng ta phải luôn giữ Giáo pháp ở trung tâm cuộc sống của mình.

Càng ngày càng có nhiều người cố gắng dành thời gian ẩn tu, có thể là nửa tháng, mười ngày hoặc một tuần, để hít thở thật sâu, tìm lại nguồn cảm hứng.Như Đức Phật đã nói, vạn vật đều biến đổi theo thời gian. Nhiều cư sĩ luôn muốn kháng lại sự thay đổi đó hết mức có thể. Họ muốn sống trong một trạng thái nguyên vẹn bất biến nhưng lại không thể thực hiện. Đây thật sự là thách thức cho giới cư sĩ. Ngược lại, đối với tu sĩ thì dễ dàng hơn, vì cuộc sống của họ, từ nghi lễ, học hành cho đến sinh hoạt đều liên quan đến Giáo pháp.
Làm thế nào để có thể giữ được Giáo pháp ở trung tâm của cuộc sống của quý vị khi quý vị không sống một mình mà cũng không phải sống giữa cộng đồng tu sĩ. Đây là vấn đề đặt ra cho rất nhiều người không chỉ ở phương Tây mà cả ở châu Á cũng vậy, chẳng hạn như ở Hong Kong, nơi không có nhiều tu sĩ. Nếu quý vị là một người thực hành Pháp, quý vị có thể tìm được nguồn cảm hứng từ đâu khi mỗi ngày quý vị phải sống với gia đình, đồng nghiệp và mỗi người lại đi theo một hướng khác nhau, quý vị cũng đi một hướng khác nữa. 2500 năm trước, Đức Phật đã nói rằng: “Bất cứ ai thực hành Pháp cũng giống như một con cá bơi ngược dòng khi tất cả phần còn lại bơi theo một hướng khác, trong khi mọi người bơi xuôi thì một mình mình lại bơi theo hướng ngược.” Hiện nay cũng vậy, vì vậy rất cần phải có một sự tu hành căn bản mà rất đơn giản thôi nhưng chúng ta có thể thực hiện mỗi ngày, đặc biệt là khả năng để chúng ta trở nên thức tỉnh tốt hơn. Phẩm chất căn bản để có thể thật sự biết điều gì đang diễn ra trong tâm trí chúng ta là vô cùng quan trọng. Điều này không có gì liên quan đến đời sống ở trong tu viện, không liên quan đến việc là nam hay là nữ. Chúng ta tỉnh thức hay không tỉnh thức, chúng ta cần nhận thức được điều đó. Vì vậy, làm thế nào để học cách tỉnh thức tốt hơn và biết được điều gì đang xảy ra bên trong chúng ta, đồng thời cũng có một trái tim có thể thừa nhận rằng, như Đức Phật nói, mỗi người chúng ta gặp đều yêu chính mình và không muốn mình chịu đau khổ. Niềm hạnh phúc rất quan trọng đối với chúng ta thì điều đấy cũng quan trọng với tất cả mọi người xung quanh. Tất cả mọi người đều thấy bản ngã của họ gần gũi nhất với chính họ và không có gì khác gần gũi hơn, ngay cả gia đình hay đồng nghiệp của họ. Chỉ cần nhớ điều đó trong tâm trí của chúng ta, nếu chúng ta có thể làm điều đó và rèn luyện suy nghĩ theo cách đó thì đó chính là Pháp. Điều gì xảy đến cho chúng ta không quan trọng, điều quan trọng hơn là việc chúng ta phản ứng lại với điều đó như thế nào.
Có một sư thầy người gốc Bengali (Ấn Độ) nổi tiếng ở Tây Tạng đã nói rằng: “Dấu hiệu của sự thành công trong việc tu tập là càng ngày chúng ta càng có ít cảm xúc về chính chúng ta. Chúng ta không cảm thấy buồn, giận hay nổi cáu và có gì đó sai trái, chúng ta cũng không cảm thấy đau khổ hay buồn bực trong lòng. Chúng ta chấp nhận tình huống. Mỗi khi chúng ta nhìn thấy điều gì đó tốt, chúng ta cũng không muốn nắm lấy. Thời gian chúng ta đi loanh quanh các khu thương mại, thấy những thứ đẹp chúng ta không nắm lấy. Khi một điều gì đó tốt đẹp xảy ra với những người xung quanh mà không xảy ra với chúng ta thì chúng ta cũng không ghen tị, chúng ta cảm thấy vui vẻ.”

Mối quan tâm của chúng ta lúc nào cũng là “bản thân tôi, bản thân ta, bản thân mình”. Chúng ta nên bắt đầu nghĩ là những người bên cạnh thật tuyệt vời, điều đó cũng làm cho chúng ta cảm thấy tốt hơn. Cảm xúc thể hiện lòng tốt đối với mọi người trở nên càng ngày càng mang tính tự phát, còn bản ngã, khát khao, nóng giận sẽ dần dần biến mất. Đấy là dấu hiệu của sự thành công chứ không phải là sự cực lạc hay ánh sáng gì cả. Thành công là khi thấy một cái gì đó ở bên trong chúng ta đang thật sự thay đổi. Chúng ta nhìn lại 10 hay 20 năm trước, khi chúng ta còn bé, đã có gì cơ bản thay đổi trong chúng ta hay chưa, đã có gì thay đổi tốt lên hơn chưa? Có thể chúng ta đã biết về Giáo pháp rất nhiều so với 20 năm trước. Vì vậy, mỗi người trong chúng ta, tu sĩ hay cư sĩ cũng không có gì khác nhau, nam hay nữ cũng không có gì khác biệt, mỗi người đều có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình. Chúng ta có cơ hội duy nhất ngay bây giờ, như được mang thân người, chúng ta đã được gặp Pháp và đã quan tâm đến Pháp, chắc hẳn quan tâm đến Pháp chúng ta mới đến đây, nếu không quý vị đã không đến đây. Đối với cư sĩ, khi các con họ đang lớn lên từng ngày và rời khỏi gia đình, họ có thêm thời gian, vậy vấn đề đặt ra là làm sao có thể tận dụng cuộc sống mỗi ngày của họ nhiều nhất có thể. Một vài người sẽ thành công khi sống ẩn dật, một vài người sẽ thành công khi sống giữa cộng đồng, một vài người sẽ thành công trên cương vị một cư sĩ, một vài người khác sẽ thành công trên cương vị một tu sĩ. Chúng ta đến từ những nền tảng, bối cảnh xã hội khác nhau, nên sẽ không có một con đường đúng duy nhất cho tất cả mọi người. Có những tu sĩ tốt, cũng có những tu sĩ chưa thật sự tốt, có những cư sĩ rất tốt, cũng có những cư sĩ chưa tốt. Điều đấy không quan trọng. Một vài người có thể nói việc cạo đầu cũng không làm cho bạn trở thành một tu sĩ, suy nghĩ của chúng ta mới là quan trọng. Vì vậy, đối với tất cả chúng ta, vấn đề là chúng ta đang làm gì với tâm trí của chúng ta phải không? Cho dù chúng ta là tu sĩ hay cư sĩ, cho dù chúng ta là người châu Á hay người phương Tây, chúng ta đều có Phật tính. Phật tính của người châu Á cũng không khác gì với Phật tính người phương Tây, Phật tính người nam cũng không khác gì Phật tính của người nữ. Phật tính không đến chỉ bằng lời cầu nguyện. Tất cả mọi người đều có Phật tính nhưng họ không biết điều đó. Thật là buồn! Vì vậy, tất cả chúng ta, trong bất kỳ tình huống nào của cuộc đời mà nghiệp đã đưa chúng ta, chúng ta phải có trách nhiệm, phải quan sát tâm trí của chúng ta và suy nghĩ làm thế nào để chúng ta có thể thuần hóa tâm trí, rèn giũa tâm trí và thay đổi tâm trí, đánh thức hết tất cả tiềm năng của chúng ta và cho dù trong bất kỳ tình huống nào, cho dù chúng ta có bị bao phủ bởi con cái hay những người xung quanh. Tất cả mọi người đều là Thầy của chúng ta. Mỗi người đều cố gắng dạy cho chúng ta một điều gì đấy. Chúng ta có thể học được từ tất cả mọi người, đây là tiềm năng rất lớn của chúng ta. Vì vậy, cũng giống như một bông sen, ở châu Á, quý vị biết Đức Phật ngồi trên một bông hoa. Hoa sen bám rễ trong bùn nhưng nó đã vươn mình ra khỏi bùn, một điều rất kỳ diệu. Những thứ lớn lên từ bùn lại trở thành hoa sen. Chúng ta không cần phải từ bỏ tình huống, chúng ta hãy sử dụng tình huống đó để khai thác, để tu tập, để giống như hoa sen, rất đẹp, không dính bùn nhơ. Chúng ta lớn lên từ bùn đen nhưng chúng ta không bị phụ thuộc vào bùn đen. Tất cả chúng ta đều có tiềm năng này và mỗi chúng ta đều có trách nhiệm đưa Giáo pháp vào giữa trung tâm cuộc sống của chúng ta. Cần phải đặt tất cả các nguyên lý của Giáo pháp ở trong tâm trí chúng ta, điều này sẽ giúp đem lại sự thay đổi cho dù chúng ta ở đâu, dù chúng ta sống ở trong hang hay sống ở tu viện hay giữa chợ, điều đó không quan trọng, quan trọng là tâm trí của chúng ta. Chỉ có chúng ta mới có thể đối phó với tâm trí của chúng ta. Vì vậy, mỗi chúng ta cần phải có trách nhiệm không chỉ với chính bản thân chúng ta mà đối với tất cả những người xung quanh. Chúng ta không được đưa ra lý do để thoái thác trách nhiệm.
Kính chúc toàn thể quý vị may mắn và có được tuệ giác.

TIN KHÁC
TIN LIÊN QUAN