Ân đức Giáo Thọ sư

385

Kính dâng Giác linh Sư bà thượng Giác hạ Nhẫn
Viện chủ chùa Huệ Lâm, Quận 8

Ân đức Thầy ngàn năm chưa trả đặng
Nghĩa Ân sư muôn kiếp khó đáp đền
Ân của Thầy vời vợi tợ trăng lên
Khai mở trí cho đàn con tiến bước.

Vâng! Lớp học Đạo đầu đời của chúng con, Ni viện Từ Nghiêm là chiếc nôi nuôi chúng con khôn lớn. Chính nơi ấy đã ươm mầm Bồ đề, un đúc giới thân, huệ mạng cho chúng con bằng dòng sữa Chánh pháp, để hôm nay chúng con trưởng thành, những chú chim non ngày nào, nay đã bay về các vùng miền, để gieo hạt giải thoát cho thế hệ tương lai.

 

Sư bà thượng Giác hạ Nhẫn

Được Sư trưởng thượng Như hạ Thanh và quý Sư bà tại Phật học Ni viện Từ Nghiêm dạy dỗ uốn nắn, nên chúng con đã chập chững đi từng bước vào nề nếp của Ni trường. Lúc ấy, Sư bà thượng Giác hạ Nhẫn làm Giám học Ni viện Từ Nghiêm. Thoạt nhìn, Sư bà trông đạo mạo, oai nghi đĩnh đạc, khiến cho tâm chúng con kính trọng, nhưng có phần sợ sệt. Một dấu ấn khó quên trong cuộc đời học đạo. Sáng ra, đến giờ Sư bà Giám học vào lớp, biết thân không thuộc bài, nên con cuối đầu lẩn trốn, con đâu biết Sư bà không nhìn mặt, mà gọi tên trong sổ, thế là khi lên bảng, nhìn sang chị Huệ Khai viết sao con viết vậy. Sư bà bắt được, chỉ ôn tồn nói chứ không rầy, song đó là bài học suốt đời. Sư bà bảo: “Cô bé này không thuộc bài, copy bạn, đây là lần đầu Thầy tha, lần sau Thầy sẽ phạt và còn cho một cây gậy để chống (tức 1 điểm). Chỉ có thế thôi, nhưng con nguyện với lòng phải cố gắng học, nhất là môn Hán văn của Sư bà và Hòa thượng Chơn Lạc (lúc đó còn là Đại đức). Nhờ Hòa thượng nghiêm khắc trong việc học tập, nay đã hơn 45 năm, mà con vẫn còn nhớ. Có một lần nơi Giảng đường chùa Từ Nghiêm, con đang loay hoay tra những chữ khó nơi Từ điển Thiều Chửu, Sư bà Giám học đứng đàng sau, linh tính báo như có người nhìn mình, con xoay qua thấy Sư bà đứng đó tự bao giờ, con vội đứng dậy vái chào, Sư bà bảo: “Ráng học đi con, như thế là tốt lắm”. Từ những lời động viên sách tấn của Sư bà, con đã nghĩ ra cách, lấy quyển sổ tay viết ra những chữ khó trong bài, viết đi viết lại nhiều lần, nhờ thế mà con không còn copy người khác nữa. Thời gian học Trung đẳng qua nhanh. Đến năm 1975, Ni viện Từ Nghiêm giải tán lớp Trung đẳng, quý Sư cô đi Đại Tòng Lâm, Bình Tuy hay Mộc Hóa canh tác, phần huynh đệ con trở về Thầy Tổ ở Trà Vinh, sau đó lại về cất Thất ở miền Trung tu học. Nhân duyên hội đủ chúng con trở lại Sài Gòn, lãnh ngôi chùa nhỏ, nằm trong hẻm, gần chùa Từ Nghiêm. Một lần nữa con lại gặp Thầy, và thọ giáo với Thầy nhiều hơn khi còn học chúng ở Ni trường. Nhân duyên thật là hy hữu, vì trước đây Ni trưởng Như Ngộ là học chúng của Thầy tại chùa Giác Thiên tỉnh Vĩnh Long. Sau lên nhập học tại chùa Từ Nghiêm là nhờ Hòa thượng chùa Pháp Tựu (Quận 8) gởi vào và được Sư trưởng Như Thanh thâu nhận. Ni trưởng Như Ngộ được Sư trưởng và quý Sư bà cử làm Tri sự trong 9 năm liền tại Ni viện, nên không có thời gian rảnh rỗi. Khi ra riêng lãnh chùa Vạn Hạnh (Quận 10), nên Ni trưởng hay về thăm Hòa thượng Pháp Tựu và ghé thăm Sư bà. Từ đó, con được diện kiến Sư bà nhiều lần, những điều sợ sệt trước kia tan biến. Thầy tuy nghiêm nghị, nhưng khi hầu chuyện Thầy nói cười thật là cởi mở, dáng đi, dáng đứng, cách ngồi, tất cả đều là bài học không lời, diễn ra qua thân giáo của Thầy, con thấy hay hay nên đã học từ oai nghi cử chỉ đó. Dù rằng con không được phước tướng như Thầy, nhưng con cố gắng học tập để củng cố tự thân và tự tâm, Thầy thường dạy: “Muốn có một đời sống xuất gia Thánh thiện, chúng ta phải có một nếp sống đơn giản, bình dị, tránh xa hoa, lãng phí về vật chất, bằng sự tự nguyện chấp nhận đời sống như thế, phải tinh tấn nỗ lực, thực hành những Giới luật mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, để đạt đến hạnh phúc chân thật, đó là Giải thoát, Niết bàn. Người xuất gia đúng nghĩa là người sống cuộc sống gương mẫu, luôn luôn ghép mình vào khuôn khổ Giới luật do Đức Phật chế ra, để mạng sống hoàn toàn thanh tịnh. Người ấy không chỉ đem đến hạnh phúc tự thân, mà còn là suối nguồn an lạc cho tha nhân”. Đúng như vậy, hiện tại, Thầy là bực Thầy gương mẫu mà con đang học theo, từ dạo ấy con học theo chữ Hán và chữ Việt của Thầy, tuy không giống lắm, nhưng rất cứng và thẳng. Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ dạy: “Phàm người xuất gia phát tâm dõng mãnh siêu việt, thân và tâm phải khác với người thế tục, tránh xa tội lỗi, truyền bá Chánh pháp lợi lạc quần sanh, luôn luôn nhớ đến ân Tam Bảo, ân Thầy Tổ, ân cha mẹ và ân Đàn na thí chủ”. Nếu người vong ân bội nghĩa thì dù lớn lao cách mấy, giàu sang tột cùng, tài giỏi xuất chúng, cũng không xứng đáng là trang Thích tử, là con gái Đức Như Lai. Cứ mỗi lần theo Ni trưởng Như Ngộ đến thăm Thầy là Thầy đem Giới luật ra giải thích và tán thán không hết lời. Tầm quan trọng của Giới luật không chỉ nằm ở chỗ nương tựa, là người dẫn đường, là bậc thầy của Chúng xuất gia mà còn là nền tảng của Tăng già”. Thầy đã kể câu chuyện về ngài A Nan lo sợ khi nghe tin Đức Thế Tôn sắp nhập Niết bàn. Đức Thế Tôn dạy đệ tử bằng bảy pháp để Tăng đoàn không bị suy giảm. Những gì là bảy pháp?

1. Khi nào chúng Tỳ kheo tụ họp đông đủ và hòa hợp với nhau như nước hòa với sữa, thời Tăng đoàn sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
2. Khi nào chúng Tỳ kheo hội họp và giải tán trong tinh thần đoàn kết, thì Tăng đoàn không bị suy giảm.
3. Khi nào chúng Tỳ kheo không ban hành những việc không nên ban hành, và huỷ bỏ những việc đã ban hành, thì Tăng đoàn không bị suy giảm.
4. Khi nào chúng Tỳ kheo tôn trọng những vị Tôn túc, đảnh lễ và nghe theo lời dạy của các bậc Trưởng lão, thì Tăng đoàn không bị suy giảm.
5. Khi nào chúng Tỳ kheo không bị chi phối bởi tài, sắc, danh, thực, thuỳ, thì Tăng đoàn không bị suy giảm.
6. Khi nào chúng Tỳ kheo thích sống nhàn cư, để tiện nhiếp niệm, thì Tăng đoàn không bị suy giảm.
7. Khi nào chúng Tỳ kheo an trú trong Chánh định, khiến các bạn đồng tu muốn đến để cùng tu học, thì Tăng đoàn không bị suy giảm.

Ngài A Nan nghe Đức Thế Tôn dạy về bảy pháp bất thối, vui mừng khôn xiết đảnh lễ lãnh thọ và y giáo phụng hành.

Nền trời trong sáng, vài đợt mây lặng lẽ trôi trên bầu trời cao rộng. Những kỷ niệm năm xưa của đời sống Ni sinh đã lần về dĩ vãng. Hình ảnh những bậc Tôn đức Giáo thọ sư, trong đó có Thầy, đã trở về thế giới vĩnh hằng vô tung bất diệt, nhưng pháp âm của các Ngài vẫn còn vang vọng trong không gian vô tận. Chúng con hiểu rằng vạn pháp vô thường, thân ngũ uẩn của các Ngài cũng thế. Nhưng pháp thân của các Ngài vẫn sáng ngời như ánh sao Bắc đẩu, để dẫn đường cho chúng con lần bước trở về Bảo Sở.

TKN. Phước Giác