A Tỳ Đàm trong truyền thống hữu bộ (Dharmaskandha)

3

PHÁP UẨN LUẬN
 DHARMASKANDHA


Là tập Túc Luận thứ năm trong sáu Túc Luận của Hữu Bộ. Dầu bị xếp vào hàng Túc Luận nhưng nội dung mọi mặt không hề thua kém Phát Trí Luận. Có lẽ do không đi quá sâu vào các vấn đề siêu hình như Túc Luận thứ sáu nên Pháp Uẩn Luận đã giải quyết tất cả những giáo lý trọng điểm của Hữu Bộ. Tầm quan trọng của Pháp Uẩn Luận đã được chư vị tác giả của các Túc Luận kia lưu tâm. Chẳng hạn tác giả của Sangitiparyaya (túc luận thứ nhất). Còn về tác giả của Pháp Uẩn Luận thì đến nay ta vẫn chưa xác định là ngài Sariputra hay ngài Mahamaudhalyayana.

Còn bản Tạng văn của Pháp Uẩn Luận trong Kanjur Mdo… xưa nay vẫn được xem là cùng một bản với nguyên tác mà ngài Huyền Tráng sử dụng nhưng đem so ra thì lại là một bộ luận hoàn toàn xa lạ.

A TỲ ÐẠT MA PHÁP UẨN TÚC LUẬN

Tổng lượng: 21 phẩm, 10 chương, 232 trang
Tác giả: Ma Ha Mục Kiền Liên
Dịch giả: Huyền Tráng (dịch năm 659)

Phẩm 1: Học Xứ

Bàn về ngũ giới,…

Phẩm 2: Dự Lưu Chi

Bàn về quả vị Tu Ðà Hườn… Ðược ghi là riêng của Hữu Bộ.

Phẩm 3: Chứng Tịnh (aveccapasada – bất động tín)

Bàn về sự tịnh tín đối với Tam Bảo và học giới, tiêu chuẩn của một thánh nhân.

Phẩm 4: Sa Môn Quả

Bàn về 4 tầng thánh quả.

Phẩm 5: Thông Hành

Khả năng điều phối cảm thọ khổ lạc.

Phẩm 6: Thánh Chủng

Bàn về 4 hạng đệ tử Phật. Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Phẩm 7: Chánh Thắng

Bàn về 4 chánh cần.

Phẩm 8: Thần Túc

Bàn về 4 yếu tố chứng đạt Thần Túc: Ðịnh, Cần, Ức Niệm và Bất Dục (achanda). Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Phẩm 9: Niệm Trụ

Bàn về 4 Niệm Xứ. Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Phẩm 10: Thánh Ðế

Gồm một bài tổng thuyết về Kinh Chuyển Pháp Luân.

Phẩm 11: Tịnh Lự

Bàn về pháp môn thiền chỉ. Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Phẩm 12: Vô Lượng

Bàn về 4 Vô lượng tâm. Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Phẩm 13: Vô Sắc

Bàn về 4 tầng thiền Vô sắc.

Phẩm 14: Tu Ðịnh

Bàn chi tiết về việc nâng cao các tầng thiền chứng.

Phẩm 15: Giác Chi

Bàn về 7 Giác chi. Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Phẩm 16: Tạp Sự

Bàn rộng về Tâm Pháp.

Phẩm 17: Căn

Bàn về 22 Quyền.

Phẩm 18: Xứ

Bàn về 12 xứ.

Phẩm 19: Uẩn

Bàn về 5 uẩn.

Phẩm 20: Ða Giới

Bàn về 6 Giới, 18 Giới, 62 Giới. Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Phẩm 21: Duyên Khởi

Bàn về 12 Duyên sinh. Ðược ghi là của riêng Hữu Bộ.

Tĩnh Mại (664 Tây Lịch) có để lại một ghi chú như sau:

“Pháp Uẩn Luận là phần quan trọng nhất trong các tác phẩm A Tỳ Ðàm và cũng là khởi nguyên của hệ thống giáo lý Hữu Bộ. Bộ luận này do ngài Ðại Mục Liên biên soạn. Hữu Bộ là trường phái dẫn đầu của mọi trường phái Phật Giáo và sở hữu một di sản kinh điển đồ sộ từ Phát Trí Luận, Tỳ Bà Sa Luận, Thuận Chánh Lý Luận, Hiển Chân Tôn Luận. Tam Tạng pháp sư Huyền Tráng đã dịch hoàn tất Pháp Uẩn Luận ngày mười bốn tháng chín âm lịch nhằm năm thứ tư triều Hiển Khánh nhà Ðường tại Hoằng Pháp Uyển, chùa Từ Ân, kinh đô Trường An. Sa Môn Thích Quang chấp bút, Tĩnh Mại chỉnh văn, Trí Thông thẩm định bản dịch”.

-ooOoo-

PRAJNAPTISASTRA

Tác giả: Ðại Mục Liên (theo Yasomitra và Bu-Ston) – Khuyết danh (theo Tibeto-Chinese Catalogue)

Theo các tài liệu Trung Hoa, đây là tập Túc Luận thứ sáu trong 6 Túc Luận của Hữu Bộ. Nhưng trong kho tàng kinh văn Trung Hoa, tập luận này cứ là một vấn đề tồn nghi. Trước hết, mãi đến thế kỷ mười một luận này vẫn chưa được dịch sang Hán văn và tên tuổi của tác giả cũng không được xác định rõ ràng. Luận có 14 phẩm (hoặc gọi là Môn) nhưng phẩm đầu tiên (phẩm Thế Gian Thi Thiết) đã thất lạc, chỉ được nhắc tới trong chú giải. Còn nguyên tác Sanskrit của chánh luận thì nay cũng không còn. Có điều là cả bản chú giải kia cũng không có trong kinh điển Hán văn. Riêng đối với tôi (Takakushu), vấn đề nguyên tác thật sự của Luận này hoàn toàn đáng ngờ. Dù nhiều lần Wassilief đã cố gắng xem Amrtasastra như là một đồng bản của Prajnaptisastra. Và không hề có một cơ sở nào chứng minh rằng Luận này là của Hữu Bộ như ở trường hợp các Túc Luận kia. Nhưng sao cũng mặc, chúng ta phải tạm thời chấp nhận Prajnaptisastra là một Túc Luận của Hữu Bộ trong khi vẫn chưa tìm ra một chứng cứ phản biện.

-ooOoo-

THI THIẾT LUẬN

Tổng lượng: 14 phẩm (môn), 7 chương, 55 trang
Tác giả: Khuyết danh
Dịch giả: Pháp Hộ (Dharmaraksa) đến từ Ma Kiệt Ðà năm 1004, cùng các dịch giả khác.

  1. Phẩm (môn) Ðối Pháp Ðại Luận Thế Gian Thi Thiết:

Phẩm này đã mất trọn vẹn, ta chỉ còn lại một ghi chú như sau: “Phẩm Thế Gian Thi Thiết chỉ còn trong phần chú giải, phần chánh luận thì không còn nguyên tác Sanskrit”. Và bản chú giải kia nói gì về phẩm này ta cũng không được biết.

Tuy nhiên, có một điều khả dĩ giả định là Phẩm Thế Gian Thi Thiết đề cập về các vấn đề thế giới quan như vị trí núi Tu Di cùng các đại dương, về sự vận hành của nhật nguyệt chẳng hạn. Bởi trong kho tàng kinh văn chữ Hán có một luận (mã số No. 1297) nhan đề Li Shi A Pi Tan Lun (4 chữ sau là A Tỳ Ðàm Luận) và Nanjio đã cố khôi phục lại nguyên dạng Phạn văn là Lokasthiti-abhidharmasastra, trong đó nội dung bàn về các vấn đề thế giới quan mà lẽ ra nếu phẩm này còn giữ được cũng giống như vậy.

  1. Phẩm Nhân Thi Thiết (Karanaprajnapti)

Bàn về thất báu của Chuyển luân vương (xe báu, ngựa báu…)

  1. Như trên:

Ngoài các món báu, còn bàn thêm về 32 hảo tướng, việc có 1000 hoàng tử,…

  1. Như trên:

Nhắc chuyện Bồ Tát sinh lên Ðâu Suất Thiên rồi giáng sinh.

  1. Như trên:

Xác định Bồ Tát là đệ nhất hữu tình, nói về Niết Bàn,…

  1. Như trên:

Bàn rộng về 32 hảo tướng của Phật và Chuyển luân vương, về pháp tánh của chư Bồ Tát,…

  1. Như trên:

Giáo lý của đức Phật đối với Tham, Sân, Si cùng con đường vượt thoát phiền não.

  1. Như trên:

Ý nghĩa tập khởi của Khát Ái đối với đời sống, sự khác biệt giữa thân người sống và xác người chết,…

  1. Như trên:

Bàn về Hôn Thụy, Kiêu Mạn, Não Hại, Ða ngôn, Lộng ngữ, Thối thất thiền định và duyên do của chúng,…

  1. Như trên:

Núi Tu Di và chiều cao của các ngọn đại sơn khác.

  1. Như trên:

Những khác biệt về tâm linh giữa chư Phật với các đệ tử.

  1. Như trên:

Bàn sâu về các đại dương.

  1. Như trên:

Sự sai biệt giữa các loài chúng sinh.

  1. Như trên:

8 nhân khiến trời mưa,…

[1] Theo truyền thống kinh điển Pali thì sự cố ở Pava chỉ là việc giáo chủ phái Ni Kiền Tử qua đời, đồ chúng chia rẽ. Và ngài Xá Lợi Phất nhân đó thuyết giảng Kinh Phúng Tụng (G.Nguyên) – xem Dighanikaya tập IV

[2] Nếu bảo ngài Mahakausthila này là cao đồ của đức Phật thì xem ra vô lý vì từ kỳ kiết tập thứ nhất đến kỳ kiết tập thứ hai ít nhất cũng trăm năm. Trong khi đó từ thời Phật tại thế, ngài Mahakausthila đã là một trưởng lão cao niên. (G.Nguyên)