28 vì tinh tú và 12 chòm sao

3881

 Hệ thống các vì sao của Trung Quốc – 3 chòm 28 vì tinh tú

Chúng ta biết, Trái đất quay chung quanh Mặt trời, một năm hết một vòng. Như vậy nhìn từ Trái đất của chúng ta, dường như Mặt trời đang từ từ di chuyển trên nền không gian đầy sao, một năm quay vừa đúng một vòng, trở về vị trí cũ. Tuyến đường Mặt trời chầm chậm đi qua gọi là “Hoàng đạo”. Vả lại, người xưa còn sớm phát hiện ra rằng tuyến đường mà Mặt trăng cùng 5 hành tinh lớn: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ đi qua đều ở gần Hoàng đạo. Bởi vì cần phải tính toán sự thay đổi vị trí của các thiên thể di động này. Cho nên, bầu trời sao gần Hoàng đạo trở nên vô cùng quan trọng. Vì vậy, người xưa men theo hoàng đạo, đại khái chia khoảng trời sao này thành 28 phần, mỗi một phần gọi là một “Tú”, kết hợp 28 vì sao này lại gọi là 28 vì tinh tú. “Tú” có nghĩa là “dừng lại”, “nghỉ lại”. Người xưa tưởng tượng rằng, nếu những vì sao này được chuẩn bị để ghi lại hành trình của Mặt trăng, thì cũng như ngựa, xe trong nhân gian lưu thông trên đường cái đều là ngày đi đêm nghỉ, tốt nhất là Mặt trăng cũng nên như thế. Do đó, những vì sao này được gọi là “Tú”, mỗi một “Tú” chính là một “trạm Trăng”. 28 vì tinh tú cũng gọi là 28 chòm sao, là do người Trung Quốc thời cổ đại vì muốn quan sát hiện tượng thiên văn và sự vận hành của Mặt trời, Mặt trăng, 5 hành tinh lớn mà chọn lấy 28 tinh quan (các vì sao thời Trung Quốc cổ đại không gọi là tinh tòa mà gọi là “tinh quan”) để làm mốc quan sát đo đạc. 28 tinh tú lại được chia đều thành 4 nhóm, mỗi nhóm 7 tinh tú, cùng 4 phương vị Đông, Tây, Nam, Bắc phối hợp hình tượng động vật Thương long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ (tên gọi chung rùa và rắn) gọi là “Tứ tượng”, Đạo giáo gọi là “Tứ linh”. Thương có nghĩa màu xanh. Thương long chính là “Thanh long”; Chu tước theo khảo cứu chứng minh của các học giả, chỉ cho chim cút (nhiều nơi gọi Chu tước là chim sẻ đỏ); chỉ có Huyền vũ là đặc biệt nhất. Huyền vũ là biểu tượng hợp nhất của hai loại động vật – Rắn cuốn quanh thân Rùa (người ta quen gọi là Rùa đen). Tứ linh ở bốn phương hướng, từ xưa đến nay được coi là thần bảo hộ, tức Tứ thần, là 4 loại thú thần trấn thủ 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc. Các vị thần bốn hướng này, thời xưa từng được dùng vào việc bày binh trong quân trận. Thời Chiến Quốc có thuyết “Tiền Chu tước, hậu Huyền Vũ, tả Thanh long, hữu Bạch hổ”. Sau khi Đạo giáo được lưu truyền, Tứ tượng (Tứ linh) do 28 vì tinh tú hợp thành càng được tôn sùng và đây cũng là một trong những nguồn gốc của 12 con giáp.

Căn cứ phương hướng xuất hiện của 28 tinh tú có thể phân chia như sau:
– 7 sao Thanh long (Rồng Xanh phương Đông, hành Mộc):
STT Tên tinh tú Tiếng Hoa Tương đương chòm sao châu Âu Loài tượng trưng
01 Giác Mộc Giao 角木蛟 Spica (Sao sáng nhất trong chòm Xử Nữ) Giao long
(thuồng luồng)
02 Cang Kim Long 亢金龍 Virgo (Chòm Xử Nữ) Rồng
03 Đê Thổ Hạc 氐土貉 Libra (Chòm Thiên Bình, còn gọi Thiên Xứng) Thú giống loài cáo
04 Phòng Nhật Thố 房日兔 Libra (Chòm Thiên Bình, còn gọi Thiên Xứng) Thỏ
05 Tâm Nguyệt Hồ 心月狐 Antares (Sao sáng nhất trong chòm Thiên Hạt) Cáo
06 Vĩ Hỏa Hổ 尾火虎 Scorpius (Chòm Thiên Hiết, còn gọi Thiên Hạt) Cọp
07 Cơ Thủy Báo 箕水豹 Sagittarius (Chòm Nhân Mã) Beo

7 sao Bạch hổ (Hổ Trắng phương Tây, hành Kim):
STT Tên tinh tú Tiếng Hoa Tương đương chòm sao châu Âu Loài tượng trưng
01 Khuê Mộc Lang 奎木狼 Andromeda (Chòm Tiên Nữ) Sói
02 Lâu Kim Cẩu 婁金狗 Aries (Chòm Bạch Dương) Chó
03 Vị Thổ Trĩ 胃土雉 Aries (Chòm Bạch Dương) Chim trĩ
04 Mão Nhật Kê 昴日鸡 Pleiades (Tua rua – sao Thất Nữ trong chòm Kim Ngưu) Gà
05 Tất nguyệt ô 畢月烏 Taurus (Chòm Kim Ngưu) Quạ
06 Chủy Hỏa Hầu 觜火猴 Orion (Chòm Xạ Thủ) Khỉ
07 Sâm Thủy Viên 參水猿 Orion (Chòm Xạ Thủ) Vượn

7 sao Chu tước (Chim cút Đỏ phương Nam, hành Hỏa):
STT Tên tinh tú Tiếng Hoa Tương đương chòm sao châu Âu Loài tượng trưng
01 Tĩnh Mộc Hãn 井木犴 Gemini (Chòm Song Tử) Tuần lộc (Đà lộc)
02 Quỷ Kim Dương 鬼金羊 Cancer (Chòm Cự Giải, còn gọi Bắc Giải) Dê
03 Liễu Thổ Chương 柳土獐 Hydra (Chòm Trường Xà) Hươu Nước
04 Tinh Nhật Mã 星日馬 Alphard (Sao sáng nhất trong chòm Trường Xà) Ngựa
05 Trương Nguyệt Lộc 張月鹿 Crater (Chòm Cự Tước) Nai
06 Dực Hỏa Xà 翼火蛇 Corvus (Chòm Ô Nha) Rắn
07 Chẩn Thủy Dẫn 軫水蚓 Corvus (Chòm Ô Nha) Giun Đất

7 sao Huyền Vũ (Rùa Đen phương Bắc, hành Thủy):
STT Tên tinh tú Tiếng Hoa Tương đương chòm sao châu Âu Loài tượng trưng
01 Đẩu Mộc Giải 斗木獬 Sagittarius (Chòm Nhân Mã) Quái thú cổ đại
02 Ngưu Kim Ngưu 牛金牛 Capricornus (Chòm Ma Kết, còn gọi Nam Dương) Trâu
03 Nữ Thổ Bức 女土蝠 Aquarius (Chòm Bảo Bình) Dơi
04 Hư Nhật Thử 虛日鼠 Aquarius (Chòm Bảo Bình) Chuột
05 Nguy Nguyệt Yến 危月燕 Aquarius/Pegasus (Bảo Bình/Phi Mã) Chim én
06 Thất Hỏa Trư 室火豬 Pegasus (Chòm Phi Mã) Heo
07 Bích Thủy Dũ 壁水貐 Algenib (Sao thuộc Chòm Phi Mã) Thú (truyền thuyết) giống cáo, to hơn chó

Mỗi một “Tú” sẽ do một số lượng hành tinh không đồng nhau hợp thành. Có tinh tú bao gồm mười mấy cho đến mấy chục ngôi sao, như sao Khuê và sao Dực. Có tinh tú chỉ do hai hoặc ba ngôi sao hợp thành, như sao Giác, sao Tâm. Người xưa dùng những đường vẽ giả tưởng liên kết các ngôi sao của mỗi một tinh Tú thành các hình trạng, đồ hình không giống nhau.

Sao Cơ trong 28 tinh tú do 4 ngôi sao kết thành, giống hình cái ki xúc đất; sao Tĩnh do 8 ngôi sao kết thành, giống hình cái giếng,…

Nhật Tuệ